Crom là gì?
Crom là một phần của những yếu tố vi lượng bảo vệ, nhưng vai trò cũng như tần số thiếu hụt của nó ít rõ ràng hơn so với kẽm và selen. Tầm quan trọng của nó ở người không được xác định.
Vai trò của crom?
Cơ thể chứa từ 1 đến 5mg sẽ không được ưu tiên bắt giữ bởi cơ quan nào. Nó tham gia vào quá trình dung nạp với glucose bằng cách tăng số lượng bộ phận thụ cảm với Insulin, một tác nhân dung nạp glucose chứa acid nicotinic (vitamin B3). Crom cũng tham gia vào chuyển hóa chất béo.
Nhu cầu hàng ngày về crom là bao nhiêu?
Nhu cầu cung cấp được khuyên về crom là 75 microgram/ngày đối với trẻ từ 1 đến 3 tuổi và 125 microgram/ngày đối với trẻ lớn và người lớn.
Thức ăn nào cung cấp crom?
Người ta tìm thấy crom trong gan, lòng đỏ trứng và một vài chất màu. Thịt chứa từ 80 đến 120 nanogram, rau xanh và trái cây ít hơn 50 nanogam/100gam.
Những ai dễ bị thiếu crom?
Không có những dấu hiệu thiếu hụt: Định lượng huyết thanh có thể đưa ra một chỉ định. Nhu cầu cung cấp trung bình được đánh giá và 60mg/ngày và sẽ tăng ở người chơi thể thao hoặc ăn nhiều đường và bị bệnh tiểu đường.
Trường hợp nào nên dùng crom – dùng crom thường xuyên hay dùng quá liều khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?
Crom trong dinh dưỡng dường như rất ít độc. Crom công nghiệp có thể có hại và gây ung thư.
Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng, một khi cải thiện tính dung nạp glucose ở bệnh nhân tiểu đường thì thiếu hụt có thể thiết lập nên một tác nhân hạ đường máu và giảm sự trở lại cholesterol, dưới dạng cholesterol HDL.
Dị ứng chính với crom là chàm nơi bàn tay của thợ xi măng cũng như độ nhạy cảm tăng.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)
Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2007
COBALT
Cobalt là gì?
Cobalt không được sử dụng bởi cơ thể. Nó phải được ngấm vào vitamin B12 để tạo thành một trong những hợp chất.
Vai trò của cobalt?
Vai trò không tách khỏi vai trò của B12 cùng với vai trò của các chuyển hóa khác nhau trong quá trình tổng hợp acid nucleic giống như ADN và trong chuyển hóa của acid amin có lưu huỳnh.
Nguồn thức ăn nào cung cấp cobalt?
Một vài thực phẩm như rau xanh và bia chứa cobalt, nhưng chúng không sử dụng được bởi sinh hóa của cơ thể. Chỉ vitamin B12, từ thực phẩm có nguồn gốc động vật cung cấp mới mang lại cobalt có thể đồng hóa. Một phần ít đến từ quá trình tổng hợp của vitamin B12 bởi vi sinh vật.
Nhu cầu hàng ngày về cobalt là bao nhiêu?
Nhu cầu tương ứng với nhu cầu của vitamin B12, được ước tính là 3mg/ngày. Nhu cầu được tăng ở người già, người hấp thu ít B12.
Thiếu cobalt biểu hiện triệu chứng thế nào?
Mệt, giảm khả năng trí tuệ, thiếu máu. Thiếu trầm trọng dẫn đến những rối loạn tâm thần, có thể chữa lành từ lúc đầu nhưng không thể khi về sau.
Những ai dễ bị thiếu cobalt?
Thiếu cobalt cũng tương ứng với thiếu vitamin B12, xảy ra ở những người ăn chay (vitamin B12 không có ở dạng có thể đồng hóa trong các sản phẩm thực vật), những người già và những người bị viêm dạ dày.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)
Cobalt không được sử dụng bởi cơ thể. Nó phải được ngấm vào vitamin B12 để tạo thành một trong những hợp chất.
Vai trò của cobalt?
Vai trò không tách khỏi vai trò của B12 cùng với vai trò của các chuyển hóa khác nhau trong quá trình tổng hợp acid nucleic giống như ADN và trong chuyển hóa của acid amin có lưu huỳnh.
Nguồn thức ăn nào cung cấp cobalt?
Một vài thực phẩm như rau xanh và bia chứa cobalt, nhưng chúng không sử dụng được bởi sinh hóa của cơ thể. Chỉ vitamin B12, từ thực phẩm có nguồn gốc động vật cung cấp mới mang lại cobalt có thể đồng hóa. Một phần ít đến từ quá trình tổng hợp của vitamin B12 bởi vi sinh vật.
Nhu cầu hàng ngày về cobalt là bao nhiêu?
Nhu cầu tương ứng với nhu cầu của vitamin B12, được ước tính là 3mg/ngày. Nhu cầu được tăng ở người già, người hấp thu ít B12.
Thiếu cobalt biểu hiện triệu chứng thế nào?
Mệt, giảm khả năng trí tuệ, thiếu máu. Thiếu trầm trọng dẫn đến những rối loạn tâm thần, có thể chữa lành từ lúc đầu nhưng không thể khi về sau.
Những ai dễ bị thiếu cobalt?
Thiếu cobalt cũng tương ứng với thiếu vitamin B12, xảy ra ở những người ăn chay (vitamin B12 không có ở dạng có thể đồng hóa trong các sản phẩm thực vật), những người già và những người bị viêm dạ dày.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)
PHOSPHO
Phospho là gì ?
Phospho tham gia vào quá trình cấu tạo xương. Nó được sử dụng để sản xuất ra năng lượng và hoạt hóa nhiều hoạt động sinh hóa. Tuy nhiên, nhiều phospho trong thực phẩm có khả năng gây ra những tác dụng âm tính.
hospho là chất khoáng có nhiều nhất trong cơ thể sau calci : ở người lớn nặng 70kg, sẽ có 700g phospho trong đó 80% có trong bộ xương, 10% trong cơ, 10% trong các mô mềm khác, đặc biệt dưới dạng phức hợp phosphoprotein, phospholipid và ATP.
Vai trò của Phospho ?
Phospho tham gia vào cấu trúc của xương, cùng với calci dưới dạng phosphat tricalci. Nó được nối với mỡ để tạo thành phức hợp (phospholipide, như là Lécithine) tạo nên màng tế bào. Đó là một phức hợp năng lượng sinh học có nhiệm vụ cung cấp năng lượng ATP cho chúng ta, cũng như tham gia vào quá trình hoạt hóa hay bất hoạt nhiều phân tử, trong đó yếu tố dinh dưỡng sẽ điều hòa các hoạt động này.
Thức ăn nào cung cấp Phospho ?
Phospho có rất nhiều trong thực phẩm nhất là những thực phẩm có chứa calci.
Nguồn tự nhiên của phospho
Fromage gruyerè
Đậu nành
Lòng đỏ trứng
Hạnh đào
Hạt dẻ
Chocolat
Đậu haricots trắng
Gạo
Gà
Thịt bò, cừu
Cá
Trứng
Thịt heo
Nấm
Dầu
Nhu cầu hàng ngày về Phospho là bao nhiêu ?
Về mặt thực phẩm và bổ sung, phospho đã mất nhiều lợi ích vì nó có xu hướng được mang vào với một lượng dư thừa bởi thực phẩm hiện nay. Mặt khác, tầm quan trọng của nó trong quá trình kích thích hoạt động của trí tuệ và trí nhớ là không được kiểm tra.
Lượng phospho cung cấp được khuyên
Trẻ còn bú : 400 mg/ngày
Trẻ từ 1 đến 3 tuổi : 500 mg/ngày
Trẻ từ 4 đến 9 tuổi : 600mg/ngày
Trẻ 10 đến 12 tuổi : 800 mg/ngày
Người lớn và thanh niên 13 đến 19 : 1000 mg/ngày
Phụ nữ có thai hay cho con bú : 1000 mg/ngày
Người già : 1000 mg/ngày
Theo các chuyên khoa nội tiết, thiếu hay thừa phospho là trường hợp ngoại lệ.
Những nguy cơ về phospho
Trước đây, phospho được cân bằng ở người. Ngày nay, mức độ phospho mang vào hơi bị thừa. Ngoài ra phosphat còn được thêm vào ở thịt nguội (xúc xích, jambon), fromage, crem, đồ tráng miệng, cá, đá (để giữ nước khi đông lạnh) bánh mì, bột, margarine. Từ 20 năm nay, mức độ mang vào trung bình từ 1,5 đến 4g/ngày. Phospho làm giảm khả năng hấp thu calci và tạo thuận lợi cho quá trình sản xuất para thormon, điều này đã huy động nhiều calci của xương, và nguy cơ loãng xương ngày một tăng đặc biệt ở phụ nữ.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)
Phospho tham gia vào quá trình cấu tạo xương. Nó được sử dụng để sản xuất ra năng lượng và hoạt hóa nhiều hoạt động sinh hóa. Tuy nhiên, nhiều phospho trong thực phẩm có khả năng gây ra những tác dụng âm tính.
hospho là chất khoáng có nhiều nhất trong cơ thể sau calci : ở người lớn nặng 70kg, sẽ có 700g phospho trong đó 80% có trong bộ xương, 10% trong cơ, 10% trong các mô mềm khác, đặc biệt dưới dạng phức hợp phosphoprotein, phospholipid và ATP.
Vai trò của Phospho ?
Phospho tham gia vào cấu trúc của xương, cùng với calci dưới dạng phosphat tricalci. Nó được nối với mỡ để tạo thành phức hợp (phospholipide, như là Lécithine) tạo nên màng tế bào. Đó là một phức hợp năng lượng sinh học có nhiệm vụ cung cấp năng lượng ATP cho chúng ta, cũng như tham gia vào quá trình hoạt hóa hay bất hoạt nhiều phân tử, trong đó yếu tố dinh dưỡng sẽ điều hòa các hoạt động này.
Thức ăn nào cung cấp Phospho ?
Phospho có rất nhiều trong thực phẩm nhất là những thực phẩm có chứa calci.
Nguồn tự nhiên của phospho
Fromage gruyerè
Đậu nành

Lòng đỏ trứngHạnh đào
Hạt dẻ
Chocolat
Đậu haricots trắng
Gạo
Gà
Thịt bò, cừu
Cá
Trứng
Thịt heo
NấmDầu
Nhu cầu hàng ngày về Phospho là bao nhiêu ?
Về mặt thực phẩm và bổ sung, phospho đã mất nhiều lợi ích vì nó có xu hướng được mang vào với một lượng dư thừa bởi thực phẩm hiện nay. Mặt khác, tầm quan trọng của nó trong quá trình kích thích hoạt động của trí tuệ và trí nhớ là không được kiểm tra.
Lượng phospho cung cấp được khuyên
Trẻ còn bú : 400 mg/ngày
Trẻ từ 1 đến 3 tuổi : 500 mg/ngày
Trẻ từ 4 đến 9 tuổi : 600mg/ngày
Trẻ 10 đến 12 tuổi : 800 mg/ngày
Người lớn và thanh niên 13 đến 19 : 1000 mg/ngày
Phụ nữ có thai hay cho con bú : 1000 mg/ngày
Người già : 1000 mg/ngày
Theo các chuyên khoa nội tiết, thiếu hay thừa phospho là trường hợp ngoại lệ.
Những nguy cơ về phospho
Trước đây, phospho được cân bằng ở người. Ngày nay, mức độ phospho mang vào hơi bị thừa. Ngoài ra phosphat còn được thêm vào ở thịt nguội (xúc xích, jambon), fromage, crem, đồ tráng miệng, cá, đá (để giữ nước khi đông lạnh) bánh mì, bột, margarine. Từ 20 năm nay, mức độ mang vào trung bình từ 1,5 đến 4g/ngày. Phospho làm giảm khả năng hấp thu calci và tạo thuận lợi cho quá trình sản xuất para thormon, điều này đã huy động nhiều calci của xương, và nguy cơ loãng xương ngày một tăng đặc biệt ở phụ nữ.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)
NATRI (SODIUM)

Natri là gì ?
Khi nói về natri, người ta nghĩ đến muối. Thật vậy, nguồn cung cấp thường xuyên natri là muối.
Vai trò của natri ?
Muối được tìm thấy khắp cơ thể. Người ta gọi đó là “áp lực thẩm thấu”. Nói cách khác, nó không ngừng từ bỏ ý định đi vào trong tế bào. Lượng muối tồn tại bên trong và bên ngoài tế bào sẽ thiết lập nên một trong những yếu tố chính để kiểm soát khả năng phân bố nước. Ở đâu có nhiều muối, ở đó sẽ có nhiều nước, tất nhiên muối có nhiều trong máu, dịch bao quanh tế bào và dịch mô kẽ hơn trong tế bào.
Nếu để muối bên trong màng tế bào, nó sẽ kéo nước vào ngày càng nhiều làm cho màng tế bào bị phù và đưa tới tình trạng ứ nước, cuối cùng sẽ làm vỡ tế bào. Điều này có thể xảy ra khi cũng rất nhiều nước đơn thuần, bị làm mất muối khoáng, cũng giống như vậy, thật sai lầm khi truyền vào cơ thể một lượng lớn dịch nhược trương vì khi đó hồng cầu sẽ dễ vỡ.
Vì vậy, điều quan trọng là tế bào phải có khả năng thải ra những lượng natri dư thừa. Để thực hiện được điều này, phải dùng nhiều chất vận chuyển, chủ yếu nhất là “bơm Natri”, bơm này sẽ đẩy lùi ion natri và đưa ion kali vào thay. Quá trình này xảy ra cần phải có năng lượng, vì bơm natri sẽ tiêu thụ 20% năng lượng được tiêu tốn mỗi ngày, gần bằng não.
Từ đó, người ta hiểu được chính xác tầm quan trọng của muối trong đặc tính giữ nước cũng như phù (do tích nước trong mô) và một vài dạng cao huyết áp động mạch.
Muối là một chất kết hợp với nước, chịu trách nhiệm phân bố nước giữa môi trường bên ngoài và tế bào.
Kết hợp với các ion khác, đặc biệt là bicarbonate, để tham gia vào sự cân bằng một hoạt động được theo dõi chặt chẽ bởi cơ thể và giữa acid và kiềm trong cơ thể, tạo ra pH máu ổn định. Khi sự trao đổi điện tích qua màng tế bào, muối sẽ can thiệp vào quá trình dẫn truyền luồng thần kinh và co cơ.
Thức ăn nào cung cấp natri ?
Nguồn cung cấp đầu tiên natri là thực phẩm :
Không có thức ăn nào không có muối, loại chứa ít nhất là dứa khoảng 0,3mg/100g. Do đó tốt hơn nên tìm những thực phẩm chứa ít muối, tránh những thực phẩm chứa nhiều muối. Cần phải phân biệt.
Thực phẩm ở tình trạng tự nhiên
Trái cây là thực phẩm cung cấp ít nhất cùng với phần lớn rau xanh.
Nguồn tự nhiên của Natri
Sò, thực phẩm tươi sống
Trứng
Cá
Thịt
Sữa
Fromage tươi
Rau tươi
Có một vài loại nước khoáng chứa nhiều Natri :
Thức ăn được thêm muối vào
Hàm lượng muối thay đổi đáng kể, tùy theo tiêu chuẩn chọn lựa. Trong những thực phẩm được chế biến công nghiệp (đồ hộp, thịt nguội, fromage…) và đối với thực vật, tùy theo khí hậu, tình trạng nuôi trồng, mức độ chín muối và thời gian dự trữ. Trong số những thực phẩm được ướp muối, ai cũng biết đó là jambon hun khói, thịt nguội, fromage lên men, nước sốt công nghiệp…chứa nhiều muối. Ngoài ra, người ta không nghĩ đến muối cũng như không nhận thấy nó qua khẩu vị, đó là muối chứa trong một số sản phẩm bánh ngọt.
Các muối không nhìn thấy này cũng có mặt ở :
Nước khoáng và một vài nước uống
Một vài loại thuốc
Nước máy
Nguồn thứ hai cung cấp muối là muối thêm vào lúc nấu. Muối trắng, tinh chế mang lại khoảng 3g/100g natri, muối biển nhiều calci, magesi, sắt và yếu tố vi lượng. Tất cả muối đưa vào đều được hấp thu.
Nhu cầu hàng ngày của Natri là bao nhiêu ?
Được ước tính khoảng 800 đến 1600 mg/ngày. Chúng ta tiêu thụ trung bình 4000 đến 6000mg dưới dạng 10 đến 15 muối Nacl, cho nên vấn đề thiếu không đặt ra. Nhìn chung, một nửa natri được tiêu thụ từ các thức ăn tự nhiên, một nửa khác từ muối, được thêm vào khi nấu nướng.
Khi nào thì nhu cầu tăng lên?
Khi nhiệt độ cao, hoạt động thể lực nhiều, ra mồ hôi. Nông dân, người chơi thể thao và những người làm việc kéo dài dưới ánh nắng mặt trời, có thể bị ngất nếu mất muối do mồ hôi và không được bù lại, nhất là những người không có thói quen tiếp xúc.
Lúc bị nôn mửa, đi chảy kéo dài.
Dùng thuốc lợi tiểu hay thuốc xổ không có lý do.
Nó có thể được tăng lên trong một vài bệnh : viêm thận mất muối, bệnh addison.
Muối không tương ứng với nhu cầu nữa
Mức độ tiêu thụ muối hiện nay không tương ứng với tính cần thiết sinh lý. Nó là quá nhiều, vì hai lý do :
Sở thích đối với muối được tạo ra một cách nhân tạo và phát triển từ nhỏ.
Công nghiệp hóa dẫn đến nhu cầu tiêu thụ thực phẩm công nghiệp hóa.
Ngày nay, may mắn thay dùng thực phẩm đông lạnh và tủ lạnh đã làm giảm mức độ sử dụng muối .
1 muỗng café muối = 6g
1 muỗng tráng miệng muối = 13g
1 muỗng canh muối = 25g
1 g Natri Chlorure chứa 0,4 g Natri
Thiếu Natri có biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Ở người khỏe mạnh, thích nghi với khí hậu, hoạt động thể lực trung bình, thiếu muối không gây bất lợi vì thận bình thường giữ lại natri cho cơ thể và kết hợp với một lượng nhỏ được đưa vào bởi thức ăn là đủ để bù lại sự mất sinh lý. Tuy nhiên, khi mất nhiều hay hạn chế muối quá mức sẽ có những dấu hiệu mất nước ngoại bào biểu hiện : khô miệng, chán ăn, mệt, tăng nhịp tim, đôi khi nôn làm nặng thêm vấn đề, co rút cùng với mức độ nặng hơn, nhãn cầu lõm, hạ huyết áp, da khô, nhăn. Những người dễ bị tổn thương khi mất cân bằng này là trẻ em và người già, đặc biệt khi nhiệt độ cao.
Những nhóm nguy cơ
Hạn chế muối cho phụ nữ có thai 3 tháng cuối là một biện pháp cổ điển để chống lại phù và tiền sản giật. Nhu cầu sử dụng muối cần thận trọng khi phát hiện ra có thai, vì nhu cầu tự nhiên của cơ thể về natri tăng cũng đủ khả năng cho phép tăng thể tích máu. Nhu cầu hạn chế natri có thể gây ra thiếu natri trong máu và phù sẽ bù trừ.
Bấy giờ người ta biết rằng, xu hướng giữ nước và muối là sinh lý trong lúc có thai và được điều khiển bởi quá trình tiết estrogen gia tăng. Thể tích máu gia tăng sẽ đi kèm một cách nghịch lý với giảm huyết áp động mạch. Thuốc lợi tiểu thật không cần thiết trong thời gian này vì nó rất có hại. Ngược lại, bổ sung thêm calci và magesi trong lúc có thai cho thấy có khả năng làm giảm cao huyết áp.
Nếu những người béo phải kiêng ăn thì chế độ giảm muối không làm họ gầy đi.
Đặc biệt, rất nguy hiểm khi người già ăn theo chế độ không có muối, ngay cả khi huyết áp họ cao. Phải được dung nạp khi huyết áp cao là một cách bình thường với lứa tuổi, vì nó cần để bù lại mức độ giảm lưu lượng não. Do đó chế độ ăn nhạt sẽ khiến họ có nguy cơ bị các vấn đề thần kinh. Mặt khác, người già sẽ không thích nghi tốt khi thiếu nước và thiếu muối vì muối cần cho sự ngon miệng, chế độ ăn không muối làm giảm sự ngon miệng vốn đã giảm ở người già, tạo điều kiện tăng nguy cơ bị gầy cũng như suy dinh dưỡng ở họ.
Khi nào người ta có thể tăng nhu cầu cung cấp muối lên ?
Khi hạ huyết áp, và các bệnh nhân bị bệnh addison
Trong phần lớn các trường hợp mất muối, đi kèm với mất dịch và một số điện giải khác.
Khi huyết áp cao. Phần lớn mọi người có thói quen ăn nhiều muối.
Không nên tập cho em bé có thói quen ăn mặn, hoặc có thói quen nấu thức ăn mặn
Không nên ăn quá nhiều thức ăn công nghiệp.
Nên uống nước khoáng giàu magesi và calci hơn là nước giàu Natri. Cuối cùng, nên ăn cá và thức ăn biển có chứa ít muối, nhiều dinh dưỡng bảo vệ cùng các rau trái ít natri và giàu kali. Trong trường hợp cao huyết áp, suy tim, xơ gan, có thể sử dụng muối kali thay thế.
Dùng muối khoáng thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?
Quá liều muối sẽ gây ra hai bệnh :
Những bệnh mà muối làm tăng dịch ngoại bào, phù toàn bộ như : suy tim, một vài bệnh thận, xơ gan.
Khởi phát bệnh cao huyết áp và có khả năng làm nặng thêm.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)
Khi nói về natri, người ta nghĩ đến muối. Thật vậy, nguồn cung cấp thường xuyên natri là muối.
Vai trò của natri ?
Muối được tìm thấy khắp cơ thể. Người ta gọi đó là “áp lực thẩm thấu”. Nói cách khác, nó không ngừng từ bỏ ý định đi vào trong tế bào. Lượng muối tồn tại bên trong và bên ngoài tế bào sẽ thiết lập nên một trong những yếu tố chính để kiểm soát khả năng phân bố nước. Ở đâu có nhiều muối, ở đó sẽ có nhiều nước, tất nhiên muối có nhiều trong máu, dịch bao quanh tế bào và dịch mô kẽ hơn trong tế bào.
Nếu để muối bên trong màng tế bào, nó sẽ kéo nước vào ngày càng nhiều làm cho màng tế bào bị phù và đưa tới tình trạng ứ nước, cuối cùng sẽ làm vỡ tế bào. Điều này có thể xảy ra khi cũng rất nhiều nước đơn thuần, bị làm mất muối khoáng, cũng giống như vậy, thật sai lầm khi truyền vào cơ thể một lượng lớn dịch nhược trương vì khi đó hồng cầu sẽ dễ vỡ.
Vì vậy, điều quan trọng là tế bào phải có khả năng thải ra những lượng natri dư thừa. Để thực hiện được điều này, phải dùng nhiều chất vận chuyển, chủ yếu nhất là “bơm Natri”, bơm này sẽ đẩy lùi ion natri và đưa ion kali vào thay. Quá trình này xảy ra cần phải có năng lượng, vì bơm natri sẽ tiêu thụ 20% năng lượng được tiêu tốn mỗi ngày, gần bằng não.
Từ đó, người ta hiểu được chính xác tầm quan trọng của muối trong đặc tính giữ nước cũng như phù (do tích nước trong mô) và một vài dạng cao huyết áp động mạch.
Muối là một chất kết hợp với nước, chịu trách nhiệm phân bố nước giữa môi trường bên ngoài và tế bào.
Kết hợp với các ion khác, đặc biệt là bicarbonate, để tham gia vào sự cân bằng một hoạt động được theo dõi chặt chẽ bởi cơ thể và giữa acid và kiềm trong cơ thể, tạo ra pH máu ổn định. Khi sự trao đổi điện tích qua màng tế bào, muối sẽ can thiệp vào quá trình dẫn truyền luồng thần kinh và co cơ.
Thức ăn nào cung cấp natri ?
Nguồn cung cấp đầu tiên natri là thực phẩm :
Không có thức ăn nào không có muối, loại chứa ít nhất là dứa khoảng 0,3mg/100g. Do đó tốt hơn nên tìm những thực phẩm chứa ít muối, tránh những thực phẩm chứa nhiều muối. Cần phải phân biệt.
Thực phẩm ở tình trạng tự nhiên
Trái cây là thực phẩm cung cấp ít nhất cùng với phần lớn rau xanh.
Nguồn tự nhiên của Natri
Sò, thực phẩm tươi sống
Trứng
Cá
Thịt
Sữa
Fromage tươi
Rau tươi
Có một vài loại nước khoáng chứa nhiều Natri :
Thức ăn được thêm muối vào
Hàm lượng muối thay đổi đáng kể, tùy theo tiêu chuẩn chọn lựa. Trong những thực phẩm được chế biến công nghiệp (đồ hộp, thịt nguội, fromage…) và đối với thực vật, tùy theo khí hậu, tình trạng nuôi trồng, mức độ chín muối và thời gian dự trữ. Trong số những thực phẩm được ướp muối, ai cũng biết đó là jambon hun khói, thịt nguội, fromage lên men, nước sốt công nghiệp…chứa nhiều muối. Ngoài ra, người ta không nghĩ đến muối cũng như không nhận thấy nó qua khẩu vị, đó là muối chứa trong một số sản phẩm bánh ngọt.
Các muối không nhìn thấy này cũng có mặt ở :
Nước khoáng và một vài nước uống
Một vài loại thuốc
Nước máy
Nguồn thứ hai cung cấp muối là muối thêm vào lúc nấu. Muối trắng, tinh chế mang lại khoảng 3g/100g natri, muối biển nhiều calci, magesi, sắt và yếu tố vi lượng. Tất cả muối đưa vào đều được hấp thu.
Nhu cầu hàng ngày của Natri là bao nhiêu ?
Được ước tính khoảng 800 đến 1600 mg/ngày. Chúng ta tiêu thụ trung bình 4000 đến 6000mg dưới dạng 10 đến 15 muối Nacl, cho nên vấn đề thiếu không đặt ra. Nhìn chung, một nửa natri được tiêu thụ từ các thức ăn tự nhiên, một nửa khác từ muối, được thêm vào khi nấu nướng.
Khi nào thì nhu cầu tăng lên?
Khi nhiệt độ cao, hoạt động thể lực nhiều, ra mồ hôi. Nông dân, người chơi thể thao và những người làm việc kéo dài dưới ánh nắng mặt trời, có thể bị ngất nếu mất muối do mồ hôi và không được bù lại, nhất là những người không có thói quen tiếp xúc.
Lúc bị nôn mửa, đi chảy kéo dài.
Dùng thuốc lợi tiểu hay thuốc xổ không có lý do.
Nó có thể được tăng lên trong một vài bệnh : viêm thận mất muối, bệnh addison.
Muối không tương ứng với nhu cầu nữa
Mức độ tiêu thụ muối hiện nay không tương ứng với tính cần thiết sinh lý. Nó là quá nhiều, vì hai lý do :
Sở thích đối với muối được tạo ra một cách nhân tạo và phát triển từ nhỏ.
Công nghiệp hóa dẫn đến nhu cầu tiêu thụ thực phẩm công nghiệp hóa.
Ngày nay, may mắn thay dùng thực phẩm đông lạnh và tủ lạnh đã làm giảm mức độ sử dụng muối .
1 muỗng café muối = 6g
1 muỗng tráng miệng muối = 13g
1 muỗng canh muối = 25g
1 g Natri Chlorure chứa 0,4 g Natri
Thiếu Natri có biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Ở người khỏe mạnh, thích nghi với khí hậu, hoạt động thể lực trung bình, thiếu muối không gây bất lợi vì thận bình thường giữ lại natri cho cơ thể và kết hợp với một lượng nhỏ được đưa vào bởi thức ăn là đủ để bù lại sự mất sinh lý. Tuy nhiên, khi mất nhiều hay hạn chế muối quá mức sẽ có những dấu hiệu mất nước ngoại bào biểu hiện : khô miệng, chán ăn, mệt, tăng nhịp tim, đôi khi nôn làm nặng thêm vấn đề, co rút cùng với mức độ nặng hơn, nhãn cầu lõm, hạ huyết áp, da khô, nhăn. Những người dễ bị tổn thương khi mất cân bằng này là trẻ em và người già, đặc biệt khi nhiệt độ cao.
Những nhóm nguy cơ
Hạn chế muối cho phụ nữ có thai 3 tháng cuối là một biện pháp cổ điển để chống lại phù và tiền sản giật. Nhu cầu sử dụng muối cần thận trọng khi phát hiện ra có thai, vì nhu cầu tự nhiên của cơ thể về natri tăng cũng đủ khả năng cho phép tăng thể tích máu. Nhu cầu hạn chế natri có thể gây ra thiếu natri trong máu và phù sẽ bù trừ.
Bấy giờ người ta biết rằng, xu hướng giữ nước và muối là sinh lý trong lúc có thai và được điều khiển bởi quá trình tiết estrogen gia tăng. Thể tích máu gia tăng sẽ đi kèm một cách nghịch lý với giảm huyết áp động mạch. Thuốc lợi tiểu thật không cần thiết trong thời gian này vì nó rất có hại. Ngược lại, bổ sung thêm calci và magesi trong lúc có thai cho thấy có khả năng làm giảm cao huyết áp.
Nếu những người béo phải kiêng ăn thì chế độ giảm muối không làm họ gầy đi.
Đặc biệt, rất nguy hiểm khi người già ăn theo chế độ không có muối, ngay cả khi huyết áp họ cao. Phải được dung nạp khi huyết áp cao là một cách bình thường với lứa tuổi, vì nó cần để bù lại mức độ giảm lưu lượng não. Do đó chế độ ăn nhạt sẽ khiến họ có nguy cơ bị các vấn đề thần kinh. Mặt khác, người già sẽ không thích nghi tốt khi thiếu nước và thiếu muối vì muối cần cho sự ngon miệng, chế độ ăn không muối làm giảm sự ngon miệng vốn đã giảm ở người già, tạo điều kiện tăng nguy cơ bị gầy cũng như suy dinh dưỡng ở họ.
Khi nào người ta có thể tăng nhu cầu cung cấp muối lên ?
Khi hạ huyết áp, và các bệnh nhân bị bệnh addison
Trong phần lớn các trường hợp mất muối, đi kèm với mất dịch và một số điện giải khác.
Khi huyết áp cao. Phần lớn mọi người có thói quen ăn nhiều muối.
Không nên tập cho em bé có thói quen ăn mặn, hoặc có thói quen nấu thức ăn mặn
Không nên ăn quá nhiều thức ăn công nghiệp.
Nên uống nước khoáng giàu magesi và calci hơn là nước giàu Natri. Cuối cùng, nên ăn cá và thức ăn biển có chứa ít muối, nhiều dinh dưỡng bảo vệ cùng các rau trái ít natri và giàu kali. Trong trường hợp cao huyết áp, suy tim, xơ gan, có thể sử dụng muối kali thay thế.
Dùng muối khoáng thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?
Quá liều muối sẽ gây ra hai bệnh :
Những bệnh mà muối làm tăng dịch ngoại bào, phù toàn bộ như : suy tim, một vài bệnh thận, xơ gan.
Khởi phát bệnh cao huyết áp và có khả năng làm nặng thêm.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)
MAGNÉ
Magesi là gì ?
Ở Pháp magesi là siêu sao về muối khoáng trong 30 năm nay. Chỉ sắt và calci có thể thay thế được vị trí siêu sao này. Ngày nay, kẽm và selen đã có vị trí quan trọng nhưng nó vẫn đứng xa magesi và hiện tượng này được phổ biến trên nhiều nước.
Lý do chính khiến magesi đạt được vị trí siêu sao là : magesi có vai trò như một tác nhân chống stress quan trọng.
Magesi được kê cho phụ nữ có thai dùng một cách có hệ thống và là tác nhân bảo vệ tim mạch. Nó được sử dụng trong bệnh viện nhiều nhất trong các khoa cấp cứu bệnh nhồi máu. Nhiều nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng, magesi cũng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động chống lại các hiện tượng được kết hợp với lão hóa. Cơ thể người lớn chứa 25 đến 30g, trong đó khoảng 70% được cố định ở xương, 29% ở mô mềm, 1% trong huyết tương.
Vai trò của magesi ?
Cation thứ hai của nội bào, tham dự vào các chuyển hóa đặc biệt của nội bào (glucid, lipid, protid, cân bằng kiềm toan, ôxy hóa khử, và đóng vai trò sinh lý quan trọng, được xác định bởi những rối loạn do thiếu hụt. Nó tác động lên quá trình tăng trưởng : giống như vitamin D, nó giúp calci và phospho cố định trên xương.
Magesi cũng cần thiết cho quá trình phát triển và hoạt động bình thường của tổ chức, đặc biệt ở 5 lĩnh vực.
- hoạt động của chuyển hóa
- hoạt động của não
- cân bằng ion
- miễn dịch, viêm, dị ứng
Thức ăn nào cung cấp magesi ?
Một trong những nguồn cung cấp tốt nhất của magesi là nước khoáng. Thức ăn giàu magesi nhất là đậu nành, cá, trái cây khô, loại hạt có dầu, rau xanh. Chocolat có chứa magesi nhưng dường như nó khó hấp thu, bởi sự có mặt của các chất béo no.
Đậu nành
Hạnh đào
Đậu haricots trắng
Hạt dẻ
Bắp
Gạo toàn phần
Đậu phụ
Bánh mì toàn phần
Cá, tôm
Chocolat
Bánh mì trắng
Nhu cầu hàng ngày magesi là bao nhiêu ?
Hàm lượng magesi trong thức ăn đã giảm đều đặn từ một thế kỷ nay và đặc biệt trong thế kỷ vừa qua (lúa mì bị loại bỏ cám, đường, mỡ, thực vật tinh chế). Quá trình loại bỏ cám làm mất 96% magesi đường tinh chế làm mất 99,9%, bóc sạch vỏ lúa làm mất 83,3%. Ngược lại, các kỹ thuật nấu bếp tiến bộ khi có tác dụng tốt đối với muối khoáng, chẳng hạn : hấp hơi hay nấu rau trong một cái nồi sâu, dày không cần nước sẽ giữ được magesi tốt hơn (ngược lại mất 30 đến 50% khi nấu với nước).
Lượng magesi cung cấp được khuyên
Trẻ còn bú : 70 mg/ngày
Trẻ từ 1 đến 3 tuổi: 120 mg/ngày
Trẻ từ 4 đến 9 tuổi: 180 mg/ngày
Trẻ 10 đến 12 tuổi: 240 mg/ngày
Người lớn và thanh niên:330 mg-420mg/ngày
Phụ nữ có thai hay cho con bú: 480 mg/ngày
Những trường hợp nào nhu cầu được tăng ?
Đó là phụ nữ nói chung, vì estrogen có một tác dụng kháng magesi. Trong chu kỳ kinh nguyệt, khi estrogen tăng thì lượng magesi giảm, một trong những lý do gây ra các rối loạn tiền kinh: đau bụng, căng vú, phù, giữ nước, dễ bị kích thích. Thuốc ngừa thai cũng làm tăng nhu cầu về magesi.
Có thai là thời kỳ mà estrogen tăng lên cao nhất và magesi giảm xuống thấp nhất. Ở Đức phụ nữ có thai được nhận magesi một cách hệ thống, và ba nghiên cứu đã chứng minh rằng, điều này làm giảm tần suất của biến chứng khi có thai như co giật, rối loạn lúc chuyển dạ và cải thiện tình trạng sức khỏe của em bé lúc sinh.
Ngoài ra, bổ sung thêm magesi có khả năng làm giảm mạnh nguy cơ sinh non với đặc tính này bác sĩ phụ khoa sử dụng magesi bằng đường truyền tĩnh mạch để chống lại nguy cơ sinh non.
Stress làm tăng nhu cầu magesi. Thật vậy, khi bị stress thì adrenalin được giải phóng ra bởi tuyến thượng thận cố định trên những tế bào (tế bào cơ) hoặc sự đi vào của calci, calci này sẽ săn đuổi magesi làm cho lượng magesi trong máu tăng lên. Khi đó, thận nhận được nhiều magesi và phải làm việc để thải magesi ra nước tiểu. Do đó mất magesi hằng ngày tỉ lệ với stress.
Chứng ưa co thắt trên cơ địa di truyền cũng làm tăng phản ứng với stress, do khả năng giữ magesi trong tế bào kém. Đối với những người này, cần thiết phải bổ sung hàng ngày sao cho phù hợp với mức độ của stress.
Thể thao làm tăng nhu cầu về magesi, vì cần nó để sinh năng lượng và thích nghi với stress, đặc biệt thích nghi với tình trạng tim mạch. Lạnh, nhiệt, café, rượu, thuốc lợi tiểu, bệnh tiểu đường cũng làm tăng nhu cầu về magesi.
Thiếu magesi biểu hiện triệu chứng như thế nào? - Những ai dễ bị thiếu magesi ?
Phụ nữ cần nhiều hơn nam giới, vì họ là những người hay bị thiếu nhất: Thường có biểu hiện dễ mệt mỏi, tê cóng, co rút, run, đau cơ, đau đầu, có xu hướng lệch cột sống, bụng trướng, rối loạn về nhu động ruột, cảm giác ngộp thở, lo lắng, dễ kích thích với tiếng ồn, với stress, mất ngủ, nhịp tim tăng, tăng huyết áp, tiếng thổi ở tim, tăng thông khí, giả chóng mặt, không cân bằng khi bước đi, đau đầu…Tất cả triệu chứng này khiến stress càng nặng thêm. Ngày nay nó được giải thích bởi thiếu hay khả năng bắt giữ của tế bào đối với magesi kém và có liên quan đến cơ địa di truyền.
Người ta đã chứng minh rằng, hoạt động vận chuyển tế bào của magesi lệ thuộc vào các tác nhân di truyền. Nhóm HlaB35’ chiếm 18% trong dân chúng, khiến bắt giữ magesi vì vậy dễ kích thích với stress.
Một cách cổ điển, người ta có thể nghiên cứu trên dấu hiệu chvostesk và thực hiện đo điện cơ.
Định lượng, magesi trong máu hay hồng cầu vẫn còn bình thường, khoảng 30% các trường hợp. Đặc biệt định lượng bài tiết magesi trong nước tiểu 24 giờ là có ích hơn. Hiện nay, trong một vài phòng thí nghiệm người ta có thể định lượng magesi trong bạch cầu. Ưa co thắt thường đi kèm với hai hiện tượng mà người ta có thể chẩn đoán bởi hỏi và định lượng sinh học. Quá trình tác động lên não xảy ra khi mất cân bằng của các chất dẫn truyền thần kinh và sự gia tăng stress, ôxy hóa các gốc tự do.
Trường hợp nào nên dùng magesi?
Tất nhiên là để phòng ngừa đối với các nhóm dễ bị tổn thương được đề cập ở trên. Phụ nữ đặc biệt người uống thuốc ngừa thai, có thai, cho con bú, ưa co thắt, bị stress, làm việc quá sức, căng thẳng, chơi thể thao, dùng một vài loại thuốc và ở người già.
Bằng đường uống đối với các trường hợp mất ngủ, mệt mỏi cùng các bệnh được liên quan với stress như : loét đường tiêu hóa, migraine, hội chứng tiền kinh, dị ứng và bệnh viêm, calci hóa mô mềm (sỏi thận, viêm quanh khớp vai). Người ta cũng sử dụng cho những người đái tháo đường để góp phần tạo điều kiện cho dung nạp glucose tốt hơn. Cuối cùng, được sử dụng ở bệnh viện, nhất là bằng đường truyền trong nhồi máu cơ tim cấp, trong loạn nhịp tim, co giật, nguy cơ đẻ non, hen suyễn.
Dùng Magesi thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?
Tốt hơn không nên dùng magesi khi bị viêm bàng quang (nguy cơ gây ra sỏi với phospho), nhược cơ, chậm nhịp tim và một vài tình trạng trầm cảm với lượng magesi trong hồng cầu cao. Liều phải được điều chỉnh nếu có suy thận.
Phần lớn muối magesi khó được hấp thu, ngay khi có tác dụng nhuận tràng. Tác dụng phụ là làm tăng nhu động ruột, do đó lựa chọn muối magesi cũng là khâu quan trọng một vài muối không có những tác dụng này và được hấp thu tốt hơn như là glycérophosphate magesi.
Tuy nhiên, cung cấp magesi vẫn không đủ, phải cố định nó. Để thực hiện được phải cho đi kèm với magesi môt chất cố định; vitamin B6. Ngày nay, khi kê đơn với mục đích này, liều cao B6 không được dùng nữa, vì về lâu dài nó có ảnh hưởng nguy hiểm cho dây thần kinh (nguy cơ bị liệt). B6 đã được thay thế bởi một dẫn xuất acid amin không độc, có một tác dụng hợp đồng với magesi đó là taurin.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)
Ở Pháp magesi là siêu sao về muối khoáng trong 30 năm nay. Chỉ sắt và calci có thể thay thế được vị trí siêu sao này. Ngày nay, kẽm và selen đã có vị trí quan trọng nhưng nó vẫn đứng xa magesi và hiện tượng này được phổ biến trên nhiều nước.
Lý do chính khiến magesi đạt được vị trí siêu sao là : magesi có vai trò như một tác nhân chống stress quan trọng.
Magesi được kê cho phụ nữ có thai dùng một cách có hệ thống và là tác nhân bảo vệ tim mạch. Nó được sử dụng trong bệnh viện nhiều nhất trong các khoa cấp cứu bệnh nhồi máu. Nhiều nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng, magesi cũng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động chống lại các hiện tượng được kết hợp với lão hóa. Cơ thể người lớn chứa 25 đến 30g, trong đó khoảng 70% được cố định ở xương, 29% ở mô mềm, 1% trong huyết tương.
Vai trò của magesi ?
Cation thứ hai của nội bào, tham dự vào các chuyển hóa đặc biệt của nội bào (glucid, lipid, protid, cân bằng kiềm toan, ôxy hóa khử, và đóng vai trò sinh lý quan trọng, được xác định bởi những rối loạn do thiếu hụt. Nó tác động lên quá trình tăng trưởng : giống như vitamin D, nó giúp calci và phospho cố định trên xương.
Magesi cũng cần thiết cho quá trình phát triển và hoạt động bình thường của tổ chức, đặc biệt ở 5 lĩnh vực.
- hoạt động của chuyển hóa
- hoạt động của não
- cân bằng ion
- miễn dịch, viêm, dị ứng
Thức ăn nào cung cấp magesi ?
Một trong những nguồn cung cấp tốt nhất của magesi là nước khoáng. Thức ăn giàu magesi nhất là đậu nành, cá, trái cây khô, loại hạt có dầu, rau xanh. Chocolat có chứa magesi nhưng dường như nó khó hấp thu, bởi sự có mặt của các chất béo no.
Đậu nànhHạnh đào
Đậu haricots trắng
Hạt dẻBắp
Gạo toàn phần
Đậu phụ
Bánh mì toàn phần
Cá, tôm
Chocolat
Bánh mì trắng
Nhu cầu hàng ngày magesi là bao nhiêu ?
Hàm lượng magesi trong thức ăn đã giảm đều đặn từ một thế kỷ nay và đặc biệt trong thế kỷ vừa qua (lúa mì bị loại bỏ cám, đường, mỡ, thực vật tinh chế). Quá trình loại bỏ cám làm mất 96% magesi đường tinh chế làm mất 99,9%, bóc sạch vỏ lúa làm mất 83,3%. Ngược lại, các kỹ thuật nấu bếp tiến bộ khi có tác dụng tốt đối với muối khoáng, chẳng hạn : hấp hơi hay nấu rau trong một cái nồi sâu, dày không cần nước sẽ giữ được magesi tốt hơn (ngược lại mất 30 đến 50% khi nấu với nước).
Lượng magesi cung cấp được khuyên
Trẻ còn bú : 70 mg/ngày
Trẻ từ 1 đến 3 tuổi: 120 mg/ngày
Trẻ từ 4 đến 9 tuổi: 180 mg/ngày
Trẻ 10 đến 12 tuổi: 240 mg/ngày
Người lớn và thanh niên:330 mg-420mg/ngày
Phụ nữ có thai hay cho con bú: 480 mg/ngày
Những trường hợp nào nhu cầu được tăng ?
Đó là phụ nữ nói chung, vì estrogen có một tác dụng kháng magesi. Trong chu kỳ kinh nguyệt, khi estrogen tăng thì lượng magesi giảm, một trong những lý do gây ra các rối loạn tiền kinh: đau bụng, căng vú, phù, giữ nước, dễ bị kích thích. Thuốc ngừa thai cũng làm tăng nhu cầu về magesi.
Có thai là thời kỳ mà estrogen tăng lên cao nhất và magesi giảm xuống thấp nhất. Ở Đức phụ nữ có thai được nhận magesi một cách hệ thống, và ba nghiên cứu đã chứng minh rằng, điều này làm giảm tần suất của biến chứng khi có thai như co giật, rối loạn lúc chuyển dạ và cải thiện tình trạng sức khỏe của em bé lúc sinh.
Ngoài ra, bổ sung thêm magesi có khả năng làm giảm mạnh nguy cơ sinh non với đặc tính này bác sĩ phụ khoa sử dụng magesi bằng đường truyền tĩnh mạch để chống lại nguy cơ sinh non.
Stress làm tăng nhu cầu magesi. Thật vậy, khi bị stress thì adrenalin được giải phóng ra bởi tuyến thượng thận cố định trên những tế bào (tế bào cơ) hoặc sự đi vào của calci, calci này sẽ săn đuổi magesi làm cho lượng magesi trong máu tăng lên. Khi đó, thận nhận được nhiều magesi và phải làm việc để thải magesi ra nước tiểu. Do đó mất magesi hằng ngày tỉ lệ với stress.
Chứng ưa co thắt trên cơ địa di truyền cũng làm tăng phản ứng với stress, do khả năng giữ magesi trong tế bào kém. Đối với những người này, cần thiết phải bổ sung hàng ngày sao cho phù hợp với mức độ của stress.
Thể thao làm tăng nhu cầu về magesi, vì cần nó để sinh năng lượng và thích nghi với stress, đặc biệt thích nghi với tình trạng tim mạch. Lạnh, nhiệt, café, rượu, thuốc lợi tiểu, bệnh tiểu đường cũng làm tăng nhu cầu về magesi.
Thiếu magesi biểu hiện triệu chứng như thế nào? - Những ai dễ bị thiếu magesi ?
Phụ nữ cần nhiều hơn nam giới, vì họ là những người hay bị thiếu nhất: Thường có biểu hiện dễ mệt mỏi, tê cóng, co rút, run, đau cơ, đau đầu, có xu hướng lệch cột sống, bụng trướng, rối loạn về nhu động ruột, cảm giác ngộp thở, lo lắng, dễ kích thích với tiếng ồn, với stress, mất ngủ, nhịp tim tăng, tăng huyết áp, tiếng thổi ở tim, tăng thông khí, giả chóng mặt, không cân bằng khi bước đi, đau đầu…Tất cả triệu chứng này khiến stress càng nặng thêm. Ngày nay nó được giải thích bởi thiếu hay khả năng bắt giữ của tế bào đối với magesi kém và có liên quan đến cơ địa di truyền.
Người ta đã chứng minh rằng, hoạt động vận chuyển tế bào của magesi lệ thuộc vào các tác nhân di truyền. Nhóm HlaB35’ chiếm 18% trong dân chúng, khiến bắt giữ magesi vì vậy dễ kích thích với stress.
Một cách cổ điển, người ta có thể nghiên cứu trên dấu hiệu chvostesk và thực hiện đo điện cơ.
Định lượng, magesi trong máu hay hồng cầu vẫn còn bình thường, khoảng 30% các trường hợp. Đặc biệt định lượng bài tiết magesi trong nước tiểu 24 giờ là có ích hơn. Hiện nay, trong một vài phòng thí nghiệm người ta có thể định lượng magesi trong bạch cầu. Ưa co thắt thường đi kèm với hai hiện tượng mà người ta có thể chẩn đoán bởi hỏi và định lượng sinh học. Quá trình tác động lên não xảy ra khi mất cân bằng của các chất dẫn truyền thần kinh và sự gia tăng stress, ôxy hóa các gốc tự do.
Trường hợp nào nên dùng magesi?
Tất nhiên là để phòng ngừa đối với các nhóm dễ bị tổn thương được đề cập ở trên. Phụ nữ đặc biệt người uống thuốc ngừa thai, có thai, cho con bú, ưa co thắt, bị stress, làm việc quá sức, căng thẳng, chơi thể thao, dùng một vài loại thuốc và ở người già.
Bằng đường uống đối với các trường hợp mất ngủ, mệt mỏi cùng các bệnh được liên quan với stress như : loét đường tiêu hóa, migraine, hội chứng tiền kinh, dị ứng và bệnh viêm, calci hóa mô mềm (sỏi thận, viêm quanh khớp vai). Người ta cũng sử dụng cho những người đái tháo đường để góp phần tạo điều kiện cho dung nạp glucose tốt hơn. Cuối cùng, được sử dụng ở bệnh viện, nhất là bằng đường truyền trong nhồi máu cơ tim cấp, trong loạn nhịp tim, co giật, nguy cơ đẻ non, hen suyễn.
Dùng Magesi thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?
Tốt hơn không nên dùng magesi khi bị viêm bàng quang (nguy cơ gây ra sỏi với phospho), nhược cơ, chậm nhịp tim và một vài tình trạng trầm cảm với lượng magesi trong hồng cầu cao. Liều phải được điều chỉnh nếu có suy thận.
Phần lớn muối magesi khó được hấp thu, ngay khi có tác dụng nhuận tràng. Tác dụng phụ là làm tăng nhu động ruột, do đó lựa chọn muối magesi cũng là khâu quan trọng một vài muối không có những tác dụng này và được hấp thu tốt hơn như là glycérophosphate magesi.
Tuy nhiên, cung cấp magesi vẫn không đủ, phải cố định nó. Để thực hiện được phải cho đi kèm với magesi môt chất cố định; vitamin B6. Ngày nay, khi kê đơn với mục đích này, liều cao B6 không được dùng nữa, vì về lâu dài nó có ảnh hưởng nguy hiểm cho dây thần kinh (nguy cơ bị liệt). B6 đã được thay thế bởi một dẫn xuất acid amin không độc, có một tác dụng hợp đồng với magesi đó là taurin.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)
LƯU HUỲNH
Lưu huỳnh là gì ?
Lưu huỳnh có thể bị ôxy hóa dễ dàng và có mùi khó chịu. Nhưng đặc tính này đã cho phép nó đóng nhiều vai trò quan trọng giữa tế bào, mô, với tổ chức của chúng ta.
Lưu huỳnh không tồn tại dưới dạng đơn thuần trong cơ thể, nhưng dưới dạng sulfat, chúng được đưa vào bên trong nhiều phân tử, đặc biệt là dưới dạng acid amin. Các acid amin chính có lưu huỳnh là menthionin, chất cố định magesi.
Acid amin tồn tại tự do hoặc kết hợp trong protein, với lưu huỳnh nhiều nhất, trong các protein này là nhóm thiol của acid amin. Acid amin chứa lưu huỳnh có rất nhiều ở da, tóc, móng, niêm mạc, bề mặt và bên trong tế bào. Ở đó, nó có nhiệm vụ cần thiết là tổng hợp glutathion, chất khử độc chính cho tế bào.
Người ta cũng tìm thấy lưu huỳnh trong nhiều phân tử mucopolysaccharid của mô liên kết, insulin và vitamin B1.
Vai trò của lưu huỳnh ?
Đầu tiên, lưu huỳnh có vai trò cấu trúc giống như phức hợp của protein và mô liên kết. Nó là cầu nối giữa hai phân tử, giúp cho một lượng lớn mô liên kết bọc ngoài các mô và các tổ chức tạo thành sụn và gân.
Nó còn cho phép tạo nên lưới xương, nơi mà calci, phospho và magesi có thể được lắng đọng. Lưu huỳnh cũng tham gia vào quá trình tạo thành protein, từ các nhóm acid amin. Tiêu biểu là những nhóm thiol nơi các acid amin bên trong của một protein kết nối chặt chẽ. Để thực hiện một cầu nối giữa hai nhóm thiol, thông thường nguyên tử kẽm được nối với phần tận cùng của lưu huỳnh và giữ nó đối diện với một acid amin khác của kẽm, ví dụ histidin. Lưu huỳnh cũng có trong nhiều phân tử quan trọng như insulin hay protein P53, một phân tử chống ung thư, duy trì dạng cần thiết để chúng hoạt động. Vấn đề là các muối khoáng khác như đồng hay cadimi có thể đến và chiếm chỗ của kẽm, làm biến dạng phân tử và biến đổi hoạt tính của chúng. Đó là một trong những lý do tăng nguy cơ ung thư do thừa đồng.
Nhưng phân tử lưu huỳnh cũng có khả năng bị tấn công trực tiếp và tạo nên một tế bào đích ưu tiên cho các gốc tự do, các gốc tự do cùng tiếp tục ôxy hóa những phân tử lưu huỳnh.
Gốc tự do không phải luôn luôn “xấu”, chúng cũng tham gia vào hoạt động sinh lý của cơ thể và chỉ trở nên nguy hiểm khi dư thừa hay trong cơ thể thiếu arseni cần thiết để trung hòa lượng dư thừa cũng như làm giảm các phân tử bị ôxy hóa.
Arseni có nhiệm vụ chống gốc tự do được thiết lập từ một enzym sử dụng chính phân tử lưu huỳnh như glutathion, và của dinh dưỡng như selen, kẽm, đồng thời bảo vệ trực tiếp nhóm thiol, vitamin C, E, và bêta caroten mà người ta gọi là “vitamin chống ôxy hóa”. Điều quan trọng cho hoạt động của các cơ quan cũng như tạo điều kiện duy trì sức khỏe tốt là phải có sẵn một lượng dự trữ các chất chống ôxy hóa. Chúng có khả năng chống lại các gốc tự do bào mòn dưới tác dụng của mặt trời, ô nhiễm, chất độc, nhiễm trùng hay đơn giản là dư thừa calo, gắng sức hoặc stress.
Nếu không đủ cần thiết thì tế bào sẽ bị hư hỏng, già và đưa tới ung thư, bệnh tim mạch, đục thủy tinh thể, thoái hóa não. Phân tử lưu huỳnh cùng các chất bổ sung cho chúng, như kẽm, selen, magesi và vitamin chống ôxy hóa sẽ hiện diện đầy đủ trong một cơ thể khỏe và ngăn ngừa được sự suy tàn. Cùng các bệnh đi kèm với lão hóa. Chúng giữ vị trí hàng đầu trong quá trình chống lại ô nhiễm và chất độc. Thực vậy, taurin được gắn vào các chất không mong muốn này để hướng chúng ra ngoài, theo đường mật, và thải ra phân. Glutathion chứa cysteine có lưu huỳnh, là vũ khí khử độc chính của tế bào. Cuối cùng, sulfat cho phép trung hòa các chất độc, những chất góp phần tạo nên hiện tượng lão hóa và xuất hiện bệnh.
Nhu cầu của lưu huỳnh là bao nhiêu ?
Nhu cầu về acid amin có lưu huỳnh được ước tính mỗi ngày khoảng 13mg/kg trọng lượng đối với phụ nữ và 14mg/kg trọng lượng đối với nam.
Lưu huỳnh có trong những thực phẩm nào ?

Đầu tiên đó là các sulfat được tìm thấy trong một vài loại nước khoáng, thực phẩm giàu lưu huỳnh nhất là thức ăn biển, nấm,
tỏi, hạt có dầu, thịt, cá, trứng (nhất là lòng đỏ).
Mùi của lòng đỏ trứng, móng hay tóc bị cháy là do nhiều lưu huỳnh.
Thiếu lưu huỳnh có biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Một vài chế độ ăn nghèo methionin, ví dụ chế độ ăn chay dẫn đến thiếu lưu huỳnh. Ngoài ra, người ta đã thấy, khi bị stress, nhiễm trùng, ô nhiễm hay tiếp xúc với mặt trời là tạo điều kiện phá hủy phân tử lưu huỳnh.
Là chậm mọc tóc, móng. Những dấu hiệu khác trong một thời gian dài vẫn chưa xuất hiện như : giảm sức đề kháng, chống ôxy hóa giảm mức độ thông tin giữa các tế bào, vận chuyển màng…Tất cả dấu hiệu này chỉ biểu hiện khi có nhiều tế bào bị ảnh hưởng: tăng tính tổn thương với nhiễm trùng và tần số của một vài bệnh thoái hóa như nhiễm mỡ ở gan.
Trường hợp nào nên dùng lưu huỳnh ?
Cystein được sử dụng rộng rãi để kích thích quá trình tổng hợp niêm mạc và tạo điều kiện dễ cho khạc đờm. Nó cũng được đưa ra với kẽm và B6 để kích thích mọc tóc và móng. Đặc biệt, lưu huỳnh kê đơn ngày càng nhiều ở người HIV(+).
Cystein, glutathion, taurin được sử dụng kết hợp cùng các chất chống ôxy hóa, để củng cố khả năng khử độc và giúp đề kháng chống ô nhiễm, tác dụng âm tính của một vài loại thuốc hoặc điều trị tia xạ và dùng cho người hút thuốc lá. Taurin có tác dụng dự trữ magesi nên được kê đơn trong điều trị suy tim.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)
Lưu huỳnh có thể bị ôxy hóa dễ dàng và có mùi khó chịu. Nhưng đặc tính này đã cho phép nó đóng nhiều vai trò quan trọng giữa tế bào, mô, với tổ chức của chúng ta.
Lưu huỳnh không tồn tại dưới dạng đơn thuần trong cơ thể, nhưng dưới dạng sulfat, chúng được đưa vào bên trong nhiều phân tử, đặc biệt là dưới dạng acid amin. Các acid amin chính có lưu huỳnh là menthionin, chất cố định magesi.
Acid amin tồn tại tự do hoặc kết hợp trong protein, với lưu huỳnh nhiều nhất, trong các protein này là nhóm thiol của acid amin. Acid amin chứa lưu huỳnh có rất nhiều ở da, tóc, móng, niêm mạc, bề mặt và bên trong tế bào. Ở đó, nó có nhiệm vụ cần thiết là tổng hợp glutathion, chất khử độc chính cho tế bào.
Người ta cũng tìm thấy lưu huỳnh trong nhiều phân tử mucopolysaccharid của mô liên kết, insulin và vitamin B1.
Vai trò của lưu huỳnh ?
Đầu tiên, lưu huỳnh có vai trò cấu trúc giống như phức hợp của protein và mô liên kết. Nó là cầu nối giữa hai phân tử, giúp cho một lượng lớn mô liên kết bọc ngoài các mô và các tổ chức tạo thành sụn và gân.
Nó còn cho phép tạo nên lưới xương, nơi mà calci, phospho và magesi có thể được lắng đọng. Lưu huỳnh cũng tham gia vào quá trình tạo thành protein, từ các nhóm acid amin. Tiêu biểu là những nhóm thiol nơi các acid amin bên trong của một protein kết nối chặt chẽ. Để thực hiện một cầu nối giữa hai nhóm thiol, thông thường nguyên tử kẽm được nối với phần tận cùng của lưu huỳnh và giữ nó đối diện với một acid amin khác của kẽm, ví dụ histidin. Lưu huỳnh cũng có trong nhiều phân tử quan trọng như insulin hay protein P53, một phân tử chống ung thư, duy trì dạng cần thiết để chúng hoạt động. Vấn đề là các muối khoáng khác như đồng hay cadimi có thể đến và chiếm chỗ của kẽm, làm biến dạng phân tử và biến đổi hoạt tính của chúng. Đó là một trong những lý do tăng nguy cơ ung thư do thừa đồng.
Nhưng phân tử lưu huỳnh cũng có khả năng bị tấn công trực tiếp và tạo nên một tế bào đích ưu tiên cho các gốc tự do, các gốc tự do cùng tiếp tục ôxy hóa những phân tử lưu huỳnh.
Gốc tự do không phải luôn luôn “xấu”, chúng cũng tham gia vào hoạt động sinh lý của cơ thể và chỉ trở nên nguy hiểm khi dư thừa hay trong cơ thể thiếu arseni cần thiết để trung hòa lượng dư thừa cũng như làm giảm các phân tử bị ôxy hóa.
Arseni có nhiệm vụ chống gốc tự do được thiết lập từ một enzym sử dụng chính phân tử lưu huỳnh như glutathion, và của dinh dưỡng như selen, kẽm, đồng thời bảo vệ trực tiếp nhóm thiol, vitamin C, E, và bêta caroten mà người ta gọi là “vitamin chống ôxy hóa”. Điều quan trọng cho hoạt động của các cơ quan cũng như tạo điều kiện duy trì sức khỏe tốt là phải có sẵn một lượng dự trữ các chất chống ôxy hóa. Chúng có khả năng chống lại các gốc tự do bào mòn dưới tác dụng của mặt trời, ô nhiễm, chất độc, nhiễm trùng hay đơn giản là dư thừa calo, gắng sức hoặc stress.
Nếu không đủ cần thiết thì tế bào sẽ bị hư hỏng, già và đưa tới ung thư, bệnh tim mạch, đục thủy tinh thể, thoái hóa não. Phân tử lưu huỳnh cùng các chất bổ sung cho chúng, như kẽm, selen, magesi và vitamin chống ôxy hóa sẽ hiện diện đầy đủ trong một cơ thể khỏe và ngăn ngừa được sự suy tàn. Cùng các bệnh đi kèm với lão hóa. Chúng giữ vị trí hàng đầu trong quá trình chống lại ô nhiễm và chất độc. Thực vậy, taurin được gắn vào các chất không mong muốn này để hướng chúng ra ngoài, theo đường mật, và thải ra phân. Glutathion chứa cysteine có lưu huỳnh, là vũ khí khử độc chính của tế bào. Cuối cùng, sulfat cho phép trung hòa các chất độc, những chất góp phần tạo nên hiện tượng lão hóa và xuất hiện bệnh.
Nhu cầu của lưu huỳnh là bao nhiêu ?
Nhu cầu về acid amin có lưu huỳnh được ước tính mỗi ngày khoảng 13mg/kg trọng lượng đối với phụ nữ và 14mg/kg trọng lượng đối với nam.
Lưu huỳnh có trong những thực phẩm nào ?

Đầu tiên đó là các sulfat được tìm thấy trong một vài loại nước khoáng, thực phẩm giàu lưu huỳnh nhất là thức ăn biển, nấm, Mùi của lòng đỏ trứng, móng hay tóc bị cháy là do nhiều lưu huỳnh.
Thiếu lưu huỳnh có biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Một vài chế độ ăn nghèo methionin, ví dụ chế độ ăn chay dẫn đến thiếu lưu huỳnh. Ngoài ra, người ta đã thấy, khi bị stress, nhiễm trùng, ô nhiễm hay tiếp xúc với mặt trời là tạo điều kiện phá hủy phân tử lưu huỳnh.
Là chậm mọc tóc, móng. Những dấu hiệu khác trong một thời gian dài vẫn chưa xuất hiện như : giảm sức đề kháng, chống ôxy hóa giảm mức độ thông tin giữa các tế bào, vận chuyển màng…Tất cả dấu hiệu này chỉ biểu hiện khi có nhiều tế bào bị ảnh hưởng: tăng tính tổn thương với nhiễm trùng và tần số của một vài bệnh thoái hóa như nhiễm mỡ ở gan.
Trường hợp nào nên dùng lưu huỳnh ?
Cystein được sử dụng rộng rãi để kích thích quá trình tổng hợp niêm mạc và tạo điều kiện dễ cho khạc đờm. Nó cũng được đưa ra với kẽm và B6 để kích thích mọc tóc và móng. Đặc biệt, lưu huỳnh kê đơn ngày càng nhiều ở người HIV(+).
Cystein, glutathion, taurin được sử dụng kết hợp cùng các chất chống ôxy hóa, để củng cố khả năng khử độc và giúp đề kháng chống ô nhiễm, tác dụng âm tính của một vài loại thuốc hoặc điều trị tia xạ và dùng cho người hút thuốc lá. Taurin có tác dụng dự trữ magesi nên được kê đơn trong điều trị suy tim.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)