Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2007

SẮT (Fe)


Sắt là gì?
Sắt là yếu tố vi lượng cổ xưa nhất được nghiên cứu. Mặc dù hiện diện trong cơ thể với một lượng rất nhỏ, nhưng nó rất cần thiết cho sự sống.
Vai trò của sắt?
Sắt cần thiết cho nhiều chức năng sống:
Chức năng hô hấp: tạo nên hemoglobin để vận chuyển ôxy từ phổi về tất cả các cơ quan.
Nó tham dự vào quá trình tạo thành myoglobin, sắc tố hô hấp của cơ cũng như tạo thành đặc tính dự trữ ôxy của cơ.
Sắt bị ôxy hóa và khử dễ dàng, nó tham gia vào cấu tạo của nhiều enzyme. Đặc biệt trong chuỗi hô hấp sắt đóng vai trò vận chuyển điện tích.
Ba chức năng này sẽ tham gia vào kênh năng lượng của hiện tượng ôxy hóa. Do đó, thiếu sắt sẽ đưa đến giảm năng lượng, nhưng người ta phải trả giá cho quá trình ôxy hóa này: Từ ôxy, sắt mang một điện từ độc thân được gọi là “gốc tự do”, thoát ra và tác động lên tất cả những gì mà nó gặp, gây tổn hại trung tâm năng lượng của tế bào, men cùng các bộ phận thụ cảm và các nhóm thiols của chúng cũng như các acid béo của màng tế bào.
Ngày nay, người ta biết rằng đó là một trong những cơ chế chủ yếu không chỉ ở lão hóa mà còn ở phần lớn các bệnh được gọi là thoái hóa. Do đó, tần số được gia tăng đáng kể với tuổi, ung thư, bệnh tim mạch, đục nhân mắt, thoái hóa não.
Chúng ta luôn có hệ thống bảo vệ chống lại những đặc tính tràn ngập của các gốc tự do, những enzyme và những vitamin chống ôxy hóa. Nhưng sắt cũng như đồng, từ các sản phẩm được sinh ra bởi hệ thống bảo vệ, có thể sinh ra những loại có tác dụng bào mòn và khó trung hòa hơn. Đó là lý do mà ngày nay chúng ta xem sắt là một yếu tố “con dao hai lưỡi”. Nếu thiếu sắt, sẽ rất nguy hiểm.
Thức ăn nào cung cấp sắt?
Nguồn cung cấp sắt tốt nhất là gan, thịt đỏ, bồ câu, thịt trắng, thức ăn biển, cá, trứng, rau, đậu nành cũng mang lại sắt nhưng khó hấp thu hơn.

Nguồn tự nhiên của sắt
Thực phẩm
mg/100g

Bồ câu
Gan
Hàu
Bột đậu nành
Trứng

Nhu cầu hàng ngày về sắt là bao nhiêu?
Nhìn chung, nhu cầu được thỏa mãn bởi thức ăn, đối với một người trung bình cần nhu cầu như sau :
Lượng sắt cung cấp được khuyên
Trẻ còn bú từ 3 đến 12 tháng : 7-9 mg/ngày
Trẻ từ 1 đến 12 tháng :
Thanh niên : 10 mg/ngày
Phụ nữ (từ lúc trưởng thành đến lúc mãn kinh) : 16-18 mg/ngày
Sau khi mãn kinh :10 mg/ngày
Phụ nữ có thai(phần thứ hai của thai kỳ) : 19-21mg/ngày
Phụ nữ cho con bú : 13 mg/ngày
Thiếu sắt biểu hiện triệu chứng thế nào?
+ Hậu quả của thiếu sắt là thiếu máu, nhưng triệu chứng thiếu sắt thường xuất hiện trước vì : Thiếu máu đôi khi được chịu đựng tốt nên nó diễn ra từ từ.
+ Suy nhược, mệt mỏi khi gắng sức hoặc da niêm xanh xao.
+ Khó thở khi gắng sức, hồi hộp, đôi khi tim có tiếng thổi, nhưng chúng không cố định.
+ Sức đề kháng với nhiễm trùng rất kém, có thai sẽ dễ bị sinh non và hư thai.
Người ta có thường bị thiếu sắt không?
Khi xem xét nhu cầu dinh dưỡng của thế giới, người ta xác định rằng : thiếu sắt là trường hợp thường xảy ra. Có 4 trường hợp thiếu hay gặp:
Thiếu từ nguồn đưa vào: Thiếu sắt và thiếu máu liên hệ lẫn nhau thiếu sắt xảy ra tử 5 đến 10% dân chúng trên toàn cầu – 500 triệu người trên thế giới - nhất là trong các nước đang phát triển, vì ở đó, người dân thiếu nhiều yếu tố. Tuy nhiên, trong các nước khác, thức ăn cũng không cung cấp đủ nhu cầu về sắt cho phụ nữ có thai và cho con bú, trẻ em, những người ăn ít thịt, người ăn chay, uống nhiều chè và thậm chí có thể làm nặng thêm thiếu sắt.
Thiếu do mất: Xảy ra ở phụ nữ mất do kinh nguyệt, hoặc sau khi chảy máu. Trong trường hợp chảy máu cấp, hay chảy máu ít nhưng âm ỉ kéo dài, trĩ, bệnh tiêu hóa, thoát vị hoành, tổn thương tử cung, u xơ, mang dụng cụ tránh thai, tiểu ra máu mạn tính, hoặc bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa cũng làm mất một lượng sắt trong cơ thể. Tất cả đều phải tăng nhu cầu cho phù hợp.
Thiếu hấp thu: Do bị cắt dạ dày, bệnh coeliaque, sprue nhiệt đới, hoặc một vài bệnh đường ruột và thức ăn giàu chất ngăn cản sự hấp thu sắt.
Thiếu sử dụng: Xảy ra do rối loạn tổng hợp hemoglobin, do thiếu folat, xơ gan vì rượu và thiếu máu do viêm.
Dùng sắt thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?
Bệnh hemochoromatose có thể do quá liều sắt trong huyết thanh cao trên 200mg/100ml. Nó có thể do di truyền, hấp thu quá nhiều sắt. Những dấu hiệu xuất hiện thường gặp nhất từ 40 đến 60 tuổi, trầm trọng nhất, sớm nhất xảy ra ở đàn ông nhiều hơn phụ nữ, có thể đi kèm với đái tháo đường, sắc tố nâu ở da và gan lớn, đôi khi chuyển thành xơ gan. Bệnh nhiễm sắt huyết thanh có thể thứ phát sau truyền máu lập lại và một vài trường hợp xơ gan. Ngoài ra, khi thừa sắt sẽ góp phần tăng nguy cơ bệnh tim mạch, ung thư, parkinson, và làm nặng lên với các bệnh như : viêm đa khớp dạng thấp.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)

MANGAN

Mangan là gì?
Mangan có một vài tác dụng sinh hóa, tương tác với chuyển hóa của đường và calci. Nếu thiếu nó, điều này hiếm - cần phải điều chỉnh. Ngược lại, không thiếu, dùng quá dư thừa sẽ nguy hiểm.
Cơ thể người lớn chứa 10 đến 20 mg. Số lượng mangan nhiều nhất được tìm thấy ở xương, gan, thận.
Vai trò của mangan ?
Mangan hoạt hóa một vài enzyme và có thể can thiệp vào sự ức chế trong một vài tế bào chuyển động của calci. Nó đóng một vai trò không rõ ràng trong sự cân bằng của đường máu và quá trình tổng hợp cholesterol, cũng như tiến trình hình thành bộ xương.
Ngược lại, vai trò của nó quá trình trong tổng hợp urê và trung hòa các anion superoxyde của gốc tự do, trong trung tâm năng lượng của tế bào cùng những lạp thể được biết rõ.
Kênh enzyme được liên quan, SOD, mangan trong ty lạp thể cũng như đồng trong tế bào có vai trò chống ôxy hóa. Ngược lại, giống như đồng khi quá nhiều hoặc không được kiểm soát sẽ trở thành tiền ôxy hóa gây độc. Não dường như đặc biệt nhạy cảm với những tác dụng âm tính của mangan, nó gây ra một vài dạng bệnh parkinson.
Thức ăn nào cung cấp mangan?
Nhiều trong thức ăn, người ta đặc biệt tìm thấy trong ngũ cốc và các dẫn xuất của nó (lúa mì, bắp, gạo, lúa mạch, đậu nành). Rau khô, hạt có dầu, chè.
Hàm lượng mangan trong thực phẩm
Hạnh đào
Lúa mạch
Lúa mì toàn phần
Nho khô
Nhu cầu hàng ngày về mangan là bao nhiêu?
Được ước tính trung bình 8mg/ngày. Thực phẩm cung cấp 6 đến 8 mg/ngày.
Thiếu mangan biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Giống với đồng, thiếu dường như rất hiếm và không đưa đến các dấu chứng biểu hiện. Ngược lại, những dấu ngộ độc được biết nhiều hơn, đặc biệt bằng đường thở ở thợ mỏ, có thể gây ra một bệnh giống với bệnh parkinson. Trường hợp ngộ độc bằng đường miệng ngoại lệ. tuy nhiên, có lẽ dư thừa nhẹ thường gặp hơn thiếu, và dư thừa có những tác dụng xấu. Não của trẻ sơ sinh có khả năng tập trung mangan cao hơn não người lớn sẽ dễ bị tổn thương. Thừa mangan có thể đưa đến đột biến.
Dùng mangan thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không ?
Trên thực tế, thân mangan vào phức hợp vitamin - muối khoáng là cần phải xem lại. Mangan cũng như đồng, sắt chỉ được dùng khi thiếu và được chứng minh bởi định lượng. Đối với mangan, kỹ thuật thực hiện định lượng mangan rất khó.
Đưa mangan vào với liều thấp giúp điều trị vi lượng trong nhiều chỉ định không được chứng minh bởi các nghiên cứu. Có lẽ cần thận trọng và giới hạn ở những điều trị ngắn ngày.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)



KẼM (Zn)

Kẽm là gì?
Kẽm là một yếu tố vi lượng quan trọng, nó chịu trách nhiệm trong hoạt động của gen chứa thông tin ở các tế bào của chúng ta. Thiếu kẽm xảy ra nhiều hơn so với thiếu sắt cho đến bây giờ kẽm vẫn là một yếu tố vi lượng mà vị trí của nó bị đánh giá thấp hơn sự thật.
Kẽm có trong tất cả loài vật sống. Cơ thể người lớn chứa trung bình từ 2 đến 3g. Tầm quan trọng của nó cũng như sắt, hơn một nửa kẽm nằm trong cơ, một phần ba trong xương. Đặc biệt một vài mô có hàm lượng kẽm tăng cao : tuyến tiền liệt, tóc, mắt.
Vai trò của kẽm ?
Hơn 200 phản ứng sinh hóa được xác định có lệ thuộc vào kẽm. Do đó kẽm can thiệp vào nhiều chuyển hóa, chuyển hóa glucid, protein và acid nucleic. Một trong những vai trò rõ nhất của nó là chứa chương trình gen trong acid nucleic. Thực vậy, kẽm rất cần thiết cho quá trình tổng hợp của gen, cho sự sao chép ADN có sẵn để tế bào nhân lên. Thiếu kẽm sẽ ảnh hưởng lên tất cả những gì có liên quan đến hoạt động nhân đôi của tế bào, sinh sản, tăng trưởng, liền sẹo, tính miễn dịch.
Kẽm còn can thiệp vào khả năng thể hiện của gen và quá trình tổng hợp của protein, cũng như trong chuyển hóa của acid béo không no tạo ra màng tế bào. Xuất phát từ đây, các chất trung gian chủ yếu đi đến trương lực mạch máu, hoạt tính của tiểu cầu máu và bạch cầu.
Kẽm cần thiết cho cấu tạo thành phần hoạt động của hormon sinh dục nam, testosteron, và đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp, cấu trúc, bài tiết nhiều hormon khác: Insulin, hormon tăng trưởng, NGF (yếu tố tăng trưởng của dây thần kinh), thymulin, gestin…
Nó cũng tác động đến những bộ phận thụ cảm có khả năng giải mã thông tin được lưu hành bởi một vài hormon hay vitamin, giống như vitamin A. Những công trình gần đây còn cho thấy vai trò quan trọng của kẽm trong cấu trúc và hoạt động của tác nhân cơ bản trong việc ngăn ngừa ung thư, protein 53, cũng như ngăn chặn sự sinh sản của các tế bào bất thường, các tế bào mà ADN của chúng bị hư hỏng bởi những gốc tự do và chất ô nhiễm.
Đặc biệt, ngoài đặc tính can thiệp vào cấu trúc và hoạt hóa coenzym của nhiều phân tử, kẽm cũng như magesi, calci, natri và kali còn tham gia vào hoạt động và sức khỏe của cơ thể. Nó được thu hút bởi nhóm thiols hay gốc lưu huỳnh của các acid amin, và bảo vệ, chúng chống lại sự tấn công của các gốc tự do. Kẽm là một chất bảo vệ chống ôxy hóa. Nó chống lại các tác dụng của một vài chất độc, kim loại nặng như cadimi và các chất ô nhiễm khác.
Thức ăn nào cung cấp kẽm?
Kẽm được tìm thấy trong thịt, cá, thức ăn biển nguồn giàu nhất là con hàu. Ngũ cốc, rau khô và hạt có dầu cũng chứa kẽm, nhưng như sắt, nó khó được hấp thu từ thực vật. Sợi có trong bắp hạt, mầm đậu nành chống lại khả năng hấp thu của kẽm.
Nguồn tự nhiên của kẽm
Thực phẩm
mg/ngày
Hàu
Gan

Thịt đỏ
Trứng
Sắt cũng là một chất ức chế mạnh khả năng hấp thu của kẽm. Không nên trộn lẫn kẽm và sắt để bổ sung.
Aspirin ức chế khả năng hấp thu sắt ở mức độ ít hơn so với kẽm. Rượu đỏ dường như cải thiện khả năng hấp thu.
Nhu cầu hàng ngày về kẽm là bao nhiêu?
Lượng kẽm cung cấp được khuyên (mg/ngày)
Trẻ còn bú: 6
Trẻ từ 1 đến 9 tuổi: 10
Trẻ từ 10 đến 12 tuổi: 12
Thanh niên từ 13 đến 19 (nam):15
Thanh niên từ 13 đến 19 (nữ): 12
Người lớn nam:15
Người lớn nữ :12
Phụ nữ có thai:15
Phụ nữ cho con bú: 19
Người già:12
Thiếu kẽm biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Rất dễ nhận thấy: Móng dễ gãy, hoặc chậm mọc và có những vết trắng. Da khô (biến đổi chuyển hóa acid béo) là một dấu hiệu gián tiếp. Những dấu hiệu bên ngoài thường được biểu hiện là gia tăng tính tổn thương với nhiễm trùng, ở trẻ em thì chậm phát triển, đàn ông giảm khả năng sinh sản, ở phụ nữ có thai gia tăng biến chứng của thai nghén.
Phụ nữ có thai, thiếu kẽm có nguy cơ sinh non tăng gấp 3 lần. Sắt được cung cấp một cách hệ thống trong lúc có thai sẽ ngăn cản sự hấp thu kẽm và có thể làm mức độ thiếu kẽm nặng thêm. Ngoài ra, bổ sung kẽm còn làm giảm nguy cơ biến chứng lúc đẻ.
Một khía cạnh quan trọng hơn nữa của kẽm là sự phát triển của trẻ em. Thiếu kẽm ở bà mẹ trong lúc có thai sẽ đi kèm với nguy cơ thiếu cân lúc sinh, tăng nguy cơ biến dạng của hệ thần kinh hoặc kém phát triển tinh thần vận động của trẻ.
Trong những điều kiện này ngày nay người ta vẫn không hiểu rõ rằng tiếp tục bổ sung không hoàn toàn sắt sẽ tạo ra tác dụng âm tính, trong khi đó kẽm và một số yếu tố khác như magesi, calci, vitamin B9B6 có một tầm quan trọng ở thời kỳ mang thai, cho bà mẹ lẫn em bé.
Đối với người già, thiếu kẽm góp phần gây mất cân bằng đồng hóa với các tác nhân của lão hóa như gốc tự do và chất độc. Về lâu dài thiếu kẽm góp phần làm giảm độ dày của da, cũng như tan khối cơ và loãng xương.
Những dấu hiệu thiếu kẽm khác là: giảm sự ngon miệng, giảm vị giác, chậm liền sẹo, chậm mọc tóc và móng, hay dễ rụng tóc.
Những ai dễ bị thiếu kẽm?
Trong quần thể người lành, 80% trẻ em và người lớn không nhận đủ từ thực phẩm hàng ngày nhu cầu của cơ thể. Tại Pháp, gần toàn bộ phụ nữ trong tuổi sinh đẻ bị thiếu kẽm, hơn 70% trong số họ không nhận được 2/3 nhu cầu đề nghị.
Kẽm không chỉ giữ vai trò quan trọng trong hoạt động phần lớn các cơ quan và mô, mà nó còn có tầm quan trọng ở phụ nữ khi có thai, đặc biệt ảnh hưởng đến bà mẹ và trẻ em. Người ăn chay có nhu cầu cung cấp kẽm thấp hơn những người khác, người già hấp thu kẽm kém.
Trẻ em đang phát triển, phụ nữ có thai hay cho con bú, người bị phẫu thuật, bị chấn thương, bị đái tháo đường, uống rượu nhiều, người dùng sắt hay aspirin. Có nhu cầu tăng cao, đơn giản ở đàn ông sẽ mất 1mg kẽm cho một lần phóng tinh.
Người hút thuốc, tiếp xúc với cadimi, cũng có nhu cầu tăng lên. Người ta phát hiện rằng thiếu kẽm thường xảy ra ở người chán ăn, bao gồm tinh thần, những bệnh nhân bị bệnh crohn, và phần lớn các bệnh đường ruột khác, sẽ đưa đến các rối loạn hấp thu, vảy nến, loét, bỏng.
Trường hợp nào nên dùng kẽm?
Kẽm được kê trong những tình huống thiếu, có những dấu hiệu xuất hiện như chậm mọc hay rụng lông tóc, móng chậm phát triển ở trẻ em, giảm khả năng sinh sản ở đàn ông. Người ta có thể phát hiện ra thiếu trước khi xuất hiện các rối loạn này, bằng cách định lượng trong máu.
Kẽm được cho với liều cao hơn liều điều chỉnh trong trường hợp bị mụn trứng cá, chán ăn tâm lý, loét tiêu hóa, herpes…
Từ thời Ai Cập cổ kẽm được đưa vào bằng đường bên ngoài để kích thích sự tạo sẹo.
Cuối cùng kẽm được dùng với liều thấp trong phương pháp điều trị vi lượng hay phép vi lượng đồng căn, thường được dùng kèm với các yếu tố khác.
Dùng kẽm thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?
Người ta khuyên rằng không dùng kẽm khi bị nhiễm trùng, vì vi khuẩn có thể lợi dụng kẽm (cũng như sắt) làm tác nhân tăng trưởng khi hệ thống miễn dịch của cơ thể sử dụng đến nó. Ngược lại, kẽm có xu hướng tạo hoạt động chống virus bằng cách hiệp đồng với acid béo không no và các chất chống ôxy hóa.
Liều quá cao, trên 150mg/ngày có thể gây ức chế miễn dịch, thay vì kích thích miễn dịch. Liều cao kẽm kéo dài sẽ tạo điều kiện thiếu đồng.
Phần lớn muối kẽm khó hấp thu và khó được dung nạp. Nó còn gây buồn nôn. Một vài muối, giống như citrat kẽm không có những tác dụng phụ này.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)

IOD



Iod là gì?
Iod là một trong những vi dinh dưỡng mà tầm quan trọng của nó đã được xác định từ lâu. Cơ thể chứa từ 15 đến 20mg iod.
Vai trò của Iod?
Vai trò được biết rõ là tham dự vào sự tạo thành hormone tuyến giáp. Những hormone này cần thiết cho sự phát triển của não, thiếu iod ở phụ nữ có thai sẽ đưa đến nguy cơ chậm phát triển tinh thần ở trẻ em.
Thêm iod vào muối và cải thiện hoạt động vận chuyển các thức ăn biển đến vùng núi và vùng đất ít iod là rất quan trọng.
Bướu giáp rất thường gặp. Thực vậy, thiếu iod gây ra tăng kích thích bù trừ của tuyến giáp. Do đó, thiếu iod sẽ đưa tới giảm hoạt tuyến giáp, được đặc trưng bởi rụng lông, táo bón, vàng da, sợ lạnh, tăng cholesterol. Hormon tuyến giáp điều khiển chuyển hóa cơ bản, tức là một phần lớn tiêu hao năng lượng lúc nghỉ, để duy trì nhiệt độ cho cơ thể.
Nguồn thức ăn nào cung cấp iod?
Cá và thức ăn biển là những thức ăn giàu iod. Trứng, thịt có chứa iod, với lượng ít hơn. Đối với các thức ăn khác thì rất ít iod. Muối ăn có thêm iod đã trở thành một nguồn bổ sung cần thiết nhưng không đủ.
Nhu cầu hàng ngày về iod là bao nhiêu?
Trẻ còn bú từ 0 đến 6 tháng : 40 mg/ngày
Trẻ còn bú từ 6 đến 12 tháng: 50 mg/ngày
Trẻ em từ 1 đến 3 tuổi: 70 mg/ngày
Trẻ em từ 4 đến 9 tuổi: 120 mg/ngày
Trẻ em từ 10 đến 12 tuổi: 140 mg/ngày
Thanh niên 13 đến 19 tuổi: 150 mg/ngày
Người lớn: 150 mg/ngày
Phụ nữ có thai: 175 mg/ngày
Phụ nữ cho con bú: 200 mg/ngày
Người già: 150 mg/ngày
Thiếu iod biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Thiếu iod làm giảm khả năng sinh sản, tăng tần suất bị sẩy thai và tử vong lúc sinh, đồng thời làm chậm phát triển tinh thần, có thể trầm trọng. Đặc biệt trẻ nhỏ, rất nhạy cảm với sự cung cấp iod cho đến giai đoạn phát triển của não (năm thứ 3).
Thiếu iod gây ra giảm hoạt giáp mà tính trầm trọng của nó là thay đổi và có thể biểu hiện bởi những dấu hiệu đã mô tả.
Ở trẻ em, không có dấu hiệu của giảm hoạt giáp, được chứng minh bởi sự cung cấp bổ sung iod kết quả là cải thiện được hoạt động trí tuệ.
Thiếu thường xuyên iod, tương tự với kẽm sẽ có những ảnh hưởng khó chấp nhận được.
Những ai dễ bị thiếu iod?
Những nghiên cứu gần đây đưa ra đánh giá trên 820 triệu người, trong đó 20 triệu người châu Âu, bị những rối loạn do thiếu iod, một số lượng lớn hơn (140 triệu ở châu Âu) không nhận được sự cung cấp tối ưu, đặc biệt trong lúc có thai, cho con bú và trẻ nhỏ, ở những người này nhu cầu được gia tăng.
Mặc dù, chương trình phòng ngừa được thực hiện nhưng thiếu iod vẫn thường gặp một cách đáng ngạc nhiên, ngay cả ở châu Âu. Iod rất quan trọng cho sự phát triển của não ở trẻ em, trong tử cung rồi sau khi sinh.
Ngoài ra, mức độ tiêu thụ tăng cao bất thường một vài thức ăn có chứa chất chống tuyến giáp có thể làm tăng sự xuất hiện bướu cổ.
Dùng iod thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?

Bổ sung iod trong muối ăn hàng ngày, đặc biệt cho phụ nữ có thai và trẻ em, hoặc bằng cách dùng thêm các sản phẩm có iod.
Nguy cơ quá liều
Đó là một trong những nguy cơ thường gặp nhất. Ở một vài vùng châu Á, nhất là Nhật Bản và Trung Quốc, ăn quá nhiều rong biển. Ở châu Âu, nguyên nhân thường gặp nhất là dư iod do dùng thuốc, nhất là thuốc chống loạn nhịp hoặc dùng chất cản quang có iod trong chụp X-quang và sát khuẩn. Dùng lâu thuốc chữa iod có thể ngăn chặn hoạt động của tuyến giáp.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)



FLUOR

Fluor là gì?
Fluor không là một yếu tố vi lượng cần thiết thực sự. Điều này không được chứng minh ở người. Nó chỉ được sử dụng để ngừa sâu răng, liều độc rất gần với liều dùng.
luor hoạt động rất mạnh và không tồn tại ở tình trạng đơn thuần. Trên thực tế, ngược với những yếu tố mà bạn đã thấy ở trên chúng cần thiết ở người, fluor không cần thiết cho hoạt động của cơ thể và sức khỏe, nhưng lại cần để có trong răng và xương. Trong cơ thể, chủ yếu là răng và xương chứa khoảng 2 g fluor.
Vai trò của fluor?
Fluor không có vai trò của coenzyme, ngược lại với sắt, đồng và mangan các chất này tham gia vào các phản ứng sinh hóa. Fluor cố định trong răng và khung xương, ở đó vai trò của chúng không rõ ràng. Với liều nhỏ sẽ làm giảm tần suất bị sâu răng. Trong xương, nó tích tụ lại tùy theo mức độ cung cấp vào. Theo một số tác giả, nó làm mạnh thêm xương xốp nhưng lại làm yếu vỏ xương, tức là tăng nguy cơ gãy cổ xương đùi và các xương khác, trừ xương sống. Ngoài ra, với liều thường được đưa vào nó có thể gây nhiễm fluor. Đó là lý do mà chúng ta đặt nó vào yếu tố “con dao hai lưỡi”.
Nhu cầu về fluor là bao nhiêu?
Không thể xác định nhu cầu vì không có phản ứng nào lệ thuộc vào fluor. Chỉ có những lời khuyên dùng fluor để ngừa sâu răng, nhưng những nghiên cứu mới đây nghiên về sử dụng fluor tại chỗ có trong kem đánh răng và nước súc miệng hơn là bổ sung fluor bằng đường uống.
Nguồn cung cấp về fluor thế nào?
Fluor có trong một vài loại nước khoáng, chè, muối, trong kem đánh răng, nước súc miệng, và trong một vài loại nước. Trong nước máy người ta cũng thêm fluor vào, nhưng điều này còn bàn cãi.
Dấu hiệu thiếu fluor ra sao?
Những lưu ý về thiếu không tồn tại vì nhu cầu không được xác định. Ngược lại, dư thừa fluor là thường gặp
Dấu hiệu thừa ở :
+ Men răng: xuất hiện các vết sắc tố, những vết này hiếm và nhỏ nếu nhẹ, nhiều, nâu và xấu nếu nặng. Nó có thể xuất hiện các lỗ.
+ Xương: trở nên quá đậm và quá yếu, hình ảnh trên xương giống với hình ảnh của bệnh Paget, biến dạng chi và cột sống.
Ngoài ra, fluor cho thấy là chất ôxy hóa mạnh, hoạt tính mạnh hơn ôxy vì vậy, nó có những tác dụng âm tính khác.
Nguy cơ quá liều
Có nhiều ý kiến khác nhau về liều độc: 5mg. Nguồn gốc của những dấu ngộ độc mạn tính không bàn cãi nữa ở những công nhân mỏ hay những vùng nước uống giàu fluor. Theo Moan, nhiều fluor xuất hiện với liều hàng ngày trên 3mg, và nhìn chung từ 4 đến 5mg. Hoạt động âm tính lên xương ở những vùng mà nước chứa từ 10 đến 30mg/l, sau thời gian tiêu thụ tối thiểu từ 10 đến 15 năm.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)






ĐỒNG

Đồng là gì?
Đồng rất cần thiết cho cơ thể, nhưng với liều rất nhỏ. Dư đồng thường gặp hơn thiếu và rất nguy hiểm.
Đồng tồn tại trong cơ thể từ 75 đến 100mg dưới nhiều dạng khác nhau. Đồng được đi kèm với acid amin hay protein. Đặc biệt, đồng được tập trung trong một vài mô như gan, vùng trên não chịu trách nhiệm thức tỉnh.
Trong máu, hầu như toàn bộ đồng được liên kết với protein, ceruleoplasmin và albumin. Đồng giống như sắt, đều tồn tại tự do, rất nguy hiểm, có thể xúc tác cho quá trình ôxy hóa không mong muốn. Những nghiên cứu mới đây cho thấy rằng, ngay khi đồng được liên kết với ceruleoplasmin cũng có thể trở thành chất tiền ôxy hóa. Do đó, đồng là một trong những yếu tố “con dao hai lưỡi”.
Vai trò của Đồng?
Đồng hoạt động như coenzyme, tổng hợp noradrenalin, chất dẫn truyền thần kinh của khả năng thức tỉnh và chú ý. Đồng cũng là coenzyme cần thiết cho quá trình tạo thành melanin, sắc tố của da, đồng thời can thiệp vào hoạt động chuyển hóa của mô liên kết cũng như tham gia vào chuỗi hô hấp (giống như sắt). Nhưng nếu đồng giống như sắt là một chất tiền ôxy hóa, thì đồng cũng đóng vai trò chống ôxy hóa bằng cách tham gia vào hoạt động của superoxyde dismutase (SOD). Tuy nhiên, để hoạt động của SOD dư hủy bỏ thì lượng đồng trong cơ thể phải thiếu nhiều. Do đó, một lần nữa giống như sắt, nhu cầu dư thừa là vấn đề nguy hiểm hơn thiếu hụt, nhưng thiếu đồng là một trường hợp hiếm xảy ra.
Đồng có thể xúc tác cho quá trình tạo thành các gốc tự do đặc biệt nguy hiểm, đồng có thể tác động như một tác nhân gây đột biến và góp phần phát triển nên ung thư.
Ngoài ra, đồng tương tác với các muối khoáng khác, bằng cách kích thích sự hấp thu và đi vào trong tế bào của sắt, chất này cũng là một tiền ôxy hóa. Đặc biệt, khi thừa đồng, đồng sẽ chiếm chỗ của kẽm trong protein, làm biến đổi hoạt tính của protein tương tự như với protein, làm biến đổi hoạt tính của protein tương tự như với protein chống ung thư P53.
Thức ăn nào cung cấp Đồng?
Gan của bê và cừu
Hàu, hến
Gan bò hay não
Thức ăn biển hay cá
Lúa mì
Đậu nành
Tiêu
Ốc
Nhu cầu hàng ngày về Đồng là bao nhiêu?
Lượng đồng cung cấp được khuyên
Trẻ còn bú: 400 mg/ngày
Trẻ từ 1 đến 3 tuổi: 500 mg/ngày
Trẻ từ 4 đến 9 tuổi: 600 mg/ngày
Trẻ 10 đến 12 tuổi: 800 mg/ngày
Người lớn và thanh niên 13 đến 19: 1000mg/ngày
Phụ nữ có thai hay cho con bú: 1000 mg/ngày
Người già: 1000 mg/ngày
Theo một nghiên cứu được thực hiện trong những điều kiện nghiêm ngặt của chuyển hóa. Với những chỉ số được kiểm soát gắt gao thì nhu cầu cung cấp được khuyên này có thể được ước tính trội thêm, nếu người ta cần thật sự.
Những dấu hiệu thiếu hụt Đồng
Thiếu Đồng, một trường hợp rất hiếm so với thiếu calci, magesi, kẽm, hay sắt. Đồng có thể là nguyên nhân của thiếu máu và những dấu hiệu thường ngoại lệ và không cố định.
Dùng Đồng thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không ?
Tăng lượng Đồng trong máu dưới tác dụng của estrogen, thuốc ngừa thai và trong lúc có thai (ở đó đồng gây ra hiện tượng tăng sắc tố do hoạt động tổng hợp melanine) hay dưới ảnh hưởng hoạt động của hệ miễn dịch - nhiễm trùng, viêm hay ung thư - chỉ phản ánh rằng đó là quá trình phân bố lại của đồng trong cơ thể chứ không phải làm tăng đồng toàn bộ.
Đồng gia tăng trong máu có thể gây ra những tác dụng âm tính, giống như ôxy hóa vitamin C.
Khi dùng nhiều gan lợn, nước máy có ống dẫn nước bằng đồng, thuốc lá nhiều đồng, cũng như bổ sung muối khoáng vitamin hay kê đơn kéo dài các yếu tố vi lượng, một trong những nguồn gốc thông thường gây ra thừa đồng. Đồng chỉ được kê khi thiếu thực sự lúc định lượng.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)