Thứ Bảy, 17 tháng 11, 2007

VITAMIN B2 HAY RIBOFLAVIN

Vitamin B2 là gì ?
- Vitamin B2 đầu tiên bị nhầm lẫn với vitamin B1. Nó được phân biệt bởi khả năng đề kháng với nhiệt và tính không ổn định ở tia cực tím, với tia này vitamin B2 sẽ bị phá hủy trong vài phút.
- Mặc dù được xếp vào nhóm vitamin tan trong nước nhưng tính tan trong nước của vitamin B2 rất yếu, nó ổn định trong môi trường acid, rất không ổn định trong môi trường kiềm.
- Nếu phần lớn thực phẩm, người ta thấy vitamin B2 được kết hợp với protein thì 90% vitamin B2 được tìm thấy ở dạng tự do trong sữa (điều này nói lên giá trị của phương tiện cất giữ sữa, trong chai mờ hoặc carton, để tránh quá trình giáng hóa bởi ánh sáng.
- Tính bền vững với nhiệt cho phép vitamin B2 chịu được quá trình nấu nướng, khử khuẩn và tiệt trùng. Nó cũng bền vững với đông lạnh, làm khô.
Vai trò của vitamin B2 ?
Dị hóa acid béo và một vài acid amin.
Những phản ứng khử ôxy dẫn đến tổng hợp ATP cho phép con người cất giữ năng lượng.
Ngoài ra, vitamin B2 với magesi rất cần thiết quá trình hoạt hóa vitamin B6 và B3. Điều này có nghĩa là thiếu magesi hoặc B2 có thể đưa đến thiếu B6B3 thứ phát.
Cuối cùng, vitamin B2 còn cần thiết để khử glutathion, chất khử độc quan trọng của cơ thể.
Thức ăn nào cung cấp vitamin B2 ?
Nguồn cung cấp tự nhiên vitamin B2
Gan
Trứng
Nấm
Yaourt
Thịt
Bánh mì toàn phần
Rau xanh đã nấu
Nhu cầu hàng ngày về vitamin B2 là bao nhiêu ?
Nhìn chung, nhu cầu vitamin B2 được tính theo nhu cầu năng lượng. Khoảng 0,6 mg cho 1000 calo.
Lượng vitamin B2 được khuyên cung cấp
Trẻ còn bú: 0,6mg/ngày
Trẻ từ 1-3 tuổi : 0,8mg/ngày
Trẻ từ 4-9 tuổi: 1 mg/ngày
Trẻ từ 10-12 tuổi: 1,4mg/ngày
Thanh niên 13 đến 19 tuổi Nam:1,8mg/ngày
Thanh niên 13 đến 19 tuổi Nữ :1,5mg/ngày
Người trưởng thành Nam:1,8mg/ngày
Người trưởng thành Nữ :1,5 mg/ngày
Phụ nữ có thai hay cho con bú: 1,8mg/ngày
Thiếu vitamin B2 biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Những dấu hiệu do thiếu vitamin B2 ở người tương đối lành tính :
- Thương tổn da (viêm da, nứt kẻ ở mặt, nhất là nơi cánh mũi, trên tai, hay đuôi lông mày) vừa niêm mạc (môi đỏ bất thường, trơn sáng và khô, đôi khi bị rỉ nước) nứt mép, viêm miệng và viêm lưỡi.
- Những triệu chứng ở mắt (sợ ánh sáng hoặc chảy nước mắt, đục giác mạc, mặt bị xung huyết). Ngoài bệnh di truyền, thiếu vitamin B2 chỉ biểu hiện khi cùng lúc thiếu nhiều nhóm B do kém hấp thụ hay chế độ ăn không cần bằng.
- Những dạng ảnh hưởng gan (hôn mê, hạ đường máu, đột tử, co giật, rối loạn tri giác…) xuất hiện rất sớm trong hai năm đầu của cuộc sống.
- Bắt đầu có biểu hiện ảnh hưởng chậm lên cơ nhất là ở tuổi thanh niên hoặc trưởng thành, và có khả năng gây ảnh hưởng lên cơ từ từ dẫn đến không cử động được. Ngoài ra, một vài thể ảnh hưởng làm cơ tim, một số khác không chịu được gắng sức tạo co rút đi kèm hoặc những biểu hiện đường máu.
- Đối với những phụ nữ chuyển hóa vitamin B2 bất thường phải dùng liều cao vitamin này nếu họ có thai, bởi vì thiếu B2 có thể gây ra những rối loạn trầm trọng ở trẻ em (giảm tương lực, đột tử, biến dạng xương).
Những ai dễ bị thiếu vitamin B2 ?
- Phụ nữ uống thuốc ngừa thai
- Phụ nữ có thai hay cho con bú
- Người già
- Người bị đái tháo đường
- Người uống nhiều rượu
- Suy dinh dưỡng hay những người có chế độ ăn không cân đối.
- Suy thận (lọc máu)
Trường hợp nào nên dùng vitamin B2?
- Trong điều trị những bất thường về di truyền của chuyển hóa (rối loạn bệnh cơ không giải thích, hội chứng gan, tiết bất thường acid tổ chức, hạ đường máu).
- Trong dự phòng và điều trị thiếu B2 do thiếu cung cấp hay hấp thu, thường đi kèm với thiếu các vitamin khác nhóm B. Nó cũng được chỉ định kèm với vitamin nhóm B, đặc biệt là B1 và B6, trong những trường hợp sau đây :
Người già
Người nghiện rượu mạnh
Đái tháo đường
Kém hấp thu
Thương tổn da và niêm mạc. Viêm da nứt kẽ, viêm lưỡi…
B2 được sử dụng ở khoa da liễu, là phương pháp điều trị điều chỉnh những chứng bệnh này.
Dùng vitamin B2 thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?
- Vitamin B2 không độc nên không có dấu hiệu ngộ độc B2.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des vitamines)


VITAMIN B1 HAY THIAMIN


Vitamin B1 là gì ?
- Vitamin B1, hay thiamin cũng được gọi là anerrien. Nó giữ vai trò hàng đầu trong chức năng của hệ thần kinh trung ương và ngoại biên.
Vai trò của vitamin B1 là gì ?
Mặc dù chỉ tham gia vào hoạt động của một vài men nhưng vitamin B1 vẫn đóng một vai trò chủ yếu.
Ðối với hệ thần kinh : Vitamin B1 là một chất chuyển vận thần kinh có dẫn truyền xung động thần kinh tại hệ thần kinh trung ương (não, tủy sống) cũng như hệ thần kinh ngoại biên (mạng lưới thần kinh nối liền hệ thần kinh trung ương với cơ và các nội tạng). Vai trò của B1 cũng rất quan trọng trong chức năng của cơ nói chung và tim nói riêng, cũng như đối với trí nhớ.
Ðối với tế bào : Vitamin B1 giữ vai trò chủ đạo trong chuyển hóa năng lượng, nhất là chuyển hóa glucid, vitamin B1 cho phép và điều hòa khả năng sử dụng glucid. Nếu tổ chức thiếu vitamin B1 thì khả năng chuyển hóa glucid sẽ không đủ và glucose, thức ăn chính của tế bào thần kinh cũng bị thiếu.
Vitamin B1 không tác động trực tiếp, nhưng giống như tất cả các vitamin nhóm B, nó được chuyển đổi thành coenzym, đặc biệt nhờ quá trình can thiệp của magesi.
Thức ăn nào cung cấp Vitamin B1 ?
Phần lớn thức ăn đều mang lại Vitamin B1, nhưng với hàm lượng thấp. Trước đây, Vitamin B1 được cung cấp bởi bánh mì, mà nhu cầu tiêu thụ bánh mì ngày nay giảm nhiều. Ngoài ra, Vitamin B1 bị mất đi trong quá trình chế biến: có 0,25mg Vitamin B1 trong 100g bánh mì toàn phần và chỉ 0,08mg B1 trong bánh mì trắng.
Nguồn tự nhiên của Vitamin B1
Thực phẩm:
Mầm lúa mì
Thịt heo nấu
Bột đậu nành

Hạt dẻ
Gan
Bánh mì toàn phần
Ngũ cốc toàn phần
Khoai tây
Nhu cầu hàng ngày về Vitamin B1 là bao nhiêu ?
Nhu cầu về Vitamin B1 không cao về số lượng nhưng phải được cung cấp hàng ngày để thỏa mãn nhu cầu cần thiết, vì Vitamin B1 không dự trữ được trong cơ thể.
Nhu cầu này tùy theo năng lượng toàn thể được đưa vào cơ thể, nhất là mức độ cung cấp glucid. Khẩu phần ăn càng nhiều đường thì nhu cầu về Vitamin B1 càng tăng, cần thiết để đồng hóa thức ăn. Nhu cầu Vitamin B1 tăng trong những trường hợp :
Uống nhiều rượu thường xuyên, rượu làm giảm đáng kể khả năng sử dụng cơ thể.
Uống nhiều café.
Không đủ Vitamin B1 do quá trình hấp thu kém (ỉa chảy mãn tính).
Ở người già.
Lượng Vitamin B1 được khuyên cung cấp
Loại
mg/ngày

Trẻ còn bú : 0,4mg/ngày
Trẻ từ 1-3 tuổi: 0,7mg/ngày
Trẻ từ 4-9 tuổi: 0,8mg/ngày
Trẻ từ 10-12 tuổi: 1,2mg/ngày
Thanh niên 13 đến 19 tuổi Nam: 1,5mg/ngà
Thanh niên 13 đến 19 tuổi Nữ: 1,3 mg/ngày
Người trưởng thành Nam: 1,5mg/ngày
Người trưởng thành Nữ : 1,3mg/ngày
Phụ nữ có thai hay cho con bú: 1,8mg/ngày
Thiếu Vitamin B1 biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Những triệu chứng sớm :
- Giảm khả năng thể lực
- Vụng về
- Giảm trí nhớ
Thiếu Vitamin B1 nhiều, đưa đến bệnh Béribéri. Béribéri có những biểu hiện khác nhau tùy theo tuổi và thức ăn, có thể biểu hiện bằng chứng rối loạn thần kinh, suy tim, phù hay bệnh não.
Thiếu một phần Vitamin B1 sẽ biểu hiện các triệu chứng : mất trọng lượng, chán ăn kéo dài, dễ kích thích, biến đổi thể trạng cùng với mệt mỏi tăng dần, rối loạn thần kinh ở các chi, tổn thương hệ thần kinh trung ương (khó tập trung, hay quên, trầm cảm) rối loạn dạ dày và suy tim..
Những ai dễ bị thiếu Vitamin B1 ?
Thiếu Vitamin B1 thường gặp một số nhóm người :
Nghiện rượu mãn tính.
Suy dinh dưỡng, đặc biệt những người lớn tuổi mà khẩu phần toàn bộ giảm, những người ăn chủ yếu thức ăn đường (càng ăn nhiều glucid nhu cầu B1 càng tăng) và những người bị bệnh về tiêu hóa làm rối loạn quá trình hấp thụ.
Phụ nữ có thai, cho con bú.
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, cần nhiều glucose và Vitamin B1, để cung cấp cho quá trình chuyển hóa của tế bào thần kinh, một quá trình chuyển hóa tăng rất nhanh đồng thời cũng cần thiết cho chuyển hóa glucid. Hệ thống thần kinh rất nhạy cảm với thiếu Vitamin B1.
Những người có chuyển hóa tăng (stress, chơi thể thao, tăng hoạt giáp) và những người đái tháo đường.
Trường hợp nào nên dùng Vitamin B1?
Vitamin B1 được chỉ định trong các trường hợp sau :
- Thiếu Vitamin B1, đưa vào từ thức ăn ở những người già hoặc người ăn theo chế độ không cân đối.
- Trong tất cả các trường hợp rối loạn hấp thụ, bệnh tiêu hóa hoặc bệnh gan, dùng thuốc hấp phụ hoặc băng niêm mạc dạ dày.
- Trong tất cả những trường hợp nôn mữa, ỉa chảy.
- Khi quá trình bài tiết tăng : đái tháo nhạt hay đái tháo đường, điều trị lợi tiểu kéo dài. Ðặc biệt, trong đái tháo đường, B1 tạo điều kiện dễ dàng cho quá trình đồng hóa glucose.
- Nhu cầu B1 tăng lên lúc có thai.
- Ngộ độc rượu mãn tính.
- Những người uống nhiều cafê hoặc những người ăn cá tươi (một vài enzym cả cá tươi phá hủy B1).
- Những trẻ em bị bệnh di truyền về chuyển hóa B1.
- Những bệnh nhân bị Béribéri.
- B1 còn được chỉ định đi kèm (hoặc không) với B6B12 để điều trị dây thần kinh bị viêm trong đau thần kinh tọa, đau lưng, vẹo cổ, đau dây thần kinh, thương tổn thần kinh (chèn ép hay cắt dây thần kinh).
Dùng Vitamin B1 thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?
Hiện nay, không có nguy cơ quá liều vitamin, vã lại độc tính của Vitamin B1 rất yếu. Do đó người ta chỉ nhận rằng, liều cao chỉ có thể gây lợi tiểu.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des vitamines)

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2007

VITAMIN A HAY RETINOL VÀ CÁC CAROTENOID


Vitamin A là gì ?
Không tan trong nước, vitamin A tan trong mỡ, ether, chloroform và aceton. Nó ổn định với nhiệt, nhưng bị giáng hóa rất nhanh bởi acid và rất nhạy cảm với ôxy hóa, không khí, ánh sáng.
Vai trò của Vitamin A ?
Vitamin A giữ những vai trò cơ bản trong thị giác, khả năng biệt hóa của biểu mô, cùng quá trình phát triển và sinh sản.
Vitamin A và thị giác :
Vitamin A đóng vai trò chủ đạo trong mức độ và tầm nhìn của đôi mắt.
Thích nghi với bóng tối là một hiện tượng sinh lý – hóa học giúp giữ lại, một dẫn xuất của retinol huyết tương; thodopsin trong các tế bào que của võng mạc. Ánh sáng yếu sẽ làm mất thành phần của thodopsin, điều này khởi động cho một luồng thần kinh.
Những tế bào trên bề mặt của mắt cũng lệ thuộc vào vitamin A, vitamin A cũng tham dự vào quá trình tổng hợp nhuộm võng mạc (một sắc tố của mắt). Cũng giống như vậy, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, carotenoid có khả năng (với vitamin C) làm chậm xuất hiện đục thủy tinh thể, một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến mù ở người già.
Vitamin A và biểu mô
Vitamin A tham dự vào sự cân bằng và đổi mới biểu mô. Vai trò này được xác định bởi tác dụng của retinoid (đồng chất hóa học của vitamin A) giúp liền sẹo và chữa lành các bệnh da liễu. Đặc biệt trong rối loạn trầm trọng quá trình ngừng hóa hay chuyển dạng bệnh lý của lớp thượng bì (vảy…nến….)
Cuối cùng, vitamin A thực hiện hoạt động điều hòa trên tuyến bã nhờn và tuyến mồ hôi.
Vitamin A và ung thư
Nhiều nghiên cứu đã đạt đến sự thoái lui của bệnh bạch sản, tiền ung thư của miệng bởi bêta caroten hay acid retinoic (sản phẩm cuối cùng của chuyển hóa vitamin A).
Một đội ngũ ở bệnh viện Saint-Louis đã sử dụng thành công vitamin A để chống lại một vài bệnh ung thư máu. Nhưng không may các tế bào ung thư dường như biết được cách để thoát khỏi hoạt động của nó sau vài tháng.
Sở dĩ bêta-caroten xuất hiện như một tác nhân ngăn ngừa và chống lại ung thư là nhờ vào những đặc tính chống ôxy hóa cùng các dẫn xuất của vitamin A, nó xuất hiện như các tác nhân làm biệt hóa trở lại đồng thời tạo khả năng chuyển các tế bào tiền ung thư thành tế bào bình thường. Điều này nhờ tác dụng trực tiếp của chúng trên gen.
Carotenoid và tính miễn dịch
Vitamin A và bêta-caroten cũng có những đặc tính kích thích miễn dịch độc lập (vitamin A, trên mức độ đáp ứng bởi kháng thể, bêta-caroten trên đáp ứng bởi tế bào lymphoT4).
Vitamin A được sử dụng trong điều trị, bêta-caroten trong sida. Những năm vừa qua, người ta xác định được những đặc tính kích thích miễn dịch của các carotenoic khác trong cà chua : Licopen.
Carotenoid và sự lão hóa :
Bêta-caroten cùng với vitamin E và một số Carotenoid khác như licopen, là các chất có khả năng bảo vệ lipid. Nói một cách khác nó bảo vệ chúng ta thoát khỏi lão hóa và một số bệnh gọi là bệnh “thoái hóa” chẳng hạn : ung thư, bệnh tim mạch, thoái hóa não…
Cuối cùng, bêta-caroten làm chậm lại tốc độ tăng nhanh của quá trình thoái hóa trong một vài tình huống đặc biệt như : tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời, đái tháo đường, nghiện thuốc lá.
Carotenoid đóng vai trò quan trọng, nó cùng các chất chống ôxy hóa khác bảo vệ, chống lại hư hỏng phân tử và tế bào do các gốc tự do được tích lũy theo tuổi tác.
Vitamin A và quá trình tăng trưởng :
Vitamin A giữ vai trò tăng trưởng và nhân lên của tế bào nên nó cũng rất cần thiết cho quá trình phát triển, đặc biệt là cần cho sự phát triển của phôi thai, trẻ em và thanh niên.

Thức ăn nào cung cấp Vitamin A ?
Vitamin A có trong tự nhiên, trong các thực phẩm bắt nguồn từ động vật : gan, dầu cá, cá, bơ fromage.
Bêta-caroten và những carotenoid khác được cung cấp từ các thức ăn có nguồn gốc thực vật, và được tìm thấy rau xanh, trái cây tươi, có màu đỏ và vàng hay lá xanh sẫm. Chẳng hạn : càrốt, củ có màu, cà chua, su, sữa. Người ta cũng tìm thấy nó trong cá hồi, tôm, gà, lòng đỏ trứng.
Những hàm lượng của bảng sau đây được thể hiện bằng mức độ tương đương retinol đối với các thực phẩm có nguồn gốc động vật, trong đó retinol có mặt ở dạng tự nhiên.
Đối với thức ăn có nguồn gốc thực vật chứa casotenoid (có khả năng chuyển thành vitamin A trong tổ chức) hàm lượng được thực hiện bằng microgram bêta-caroten (6mg bêta-caroten = IE.R)
Nguồn cung cấp tự nhiên của vitamin A
Gan động vật
Dầu gan cá
Trứng tươi

Fromage Camembert
Sữa bò
Cá trích
Chình tươi
Nguồn cung cấp tự nhiên của Bêta-caroten
Đào vàng
Cam
Cà rốt
Bắp
Khoai tây
Nhu cầu hàng ngày về Vitamin A là bao nhiêu ?
Như tất cả vitamin khác, vitamin A có những mặt cần thiết :
Cung cấp tối thiểu để tránh thiếu vitamin.
Cung cấp theo lời được khuyên nhằm cho phép bảo đảm cân bằng sinh lý và làm cạn nguồn dự trữ.
Giá trị tối ưu giúp cơ thể hoạt động tối đa khả năng của nó, bao gồm hệ thống đề kháng và sửa chữa cơ thể, tức là góp phần vào phòng ngừa bệnh và chậm quá trình lão hóa. Giá trị liên quan không chỉ với vitamin A mà với các carotenoid.
Lượng vitamin A được khuyên cung cấp
Trẻ còn bú: 350-400 mg/ngày
Trẻ từ 1 đến 3 tuổi: 350-400 mg/ngày
Trẻ từ 4 đến 9 tuổi :500-800 mg/ngày
Trẻ 10 đến 12 tuổi :700-900 mg/ngày
Thanh niên 13 đến 19 tuổi nam :900-1000 mg/ngày
Thanh niên 13 đến 19 tuổi nữ: 800-1000 mg/ngày
Người lớn nam: 800-900 mg/ngày
Người lớn nữ :800-900 mg/ngày
Phụ nữ có thai: 900-1000 mg/ngày
Phụ nữ cho con bú :1300-1400 mg/ngày
Các carotenoid khác, giống như licopen, ngày nay xuất hiện ít quan trọng hơn bêta-caroten.
Thiếu Vitamin A biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Tổn thương mắt :
Thiếu vitamin A dẫn đến thiếu rodopsin, sắc tố của giác mạc gây ra sự thích nghi với bóng tối biến đổi thị lực vào buổi tối là một trong những dấu hiệu đầu tiên của thiếu vitamin A, nhưng có thể khó để biết được ở trẻ em, triệu chứng là quáng gà (tức là nhìn không rõ khi trời chiều tối).Đối với giác mạc và kết mạc, người ta thấy có sự thay đổi các tế bào bề mặt, khô mắt. Bệnh này có thể gây đến mù không chữa được, hiện nay còn có hàng triệu người trên thế giới mắc phải.

Những biến đổi về da :
Thiếu vitamin A đưa đến teo và khô các tuyến bã và tuyến mồ hôi, với sừng hóa. Những biến đổi này ảnh hưởng đến:
Da, đặc biệt ở mặt ngoài đùi và cẳng chân.
Niêm mạc, điều này giải thích tính nhạy cảm được tăng với nhiễm trùng của phế quản và phổi, ngoài vấn đề vitamin A kích thích sự tổng hợp kháng thể.
Thay đổi trong quá trình phát triển :
Vai trò của vitamin A trong quá trình nhân lên và phát triển của tế bào giải thích rằng : Thiếu vitamin dẫn đến chậm phát triển (về chiều cao và cân nặng ).
Thiếu vitamin A vẫn còn xảy ra trong dân chúng, nhất là trẻ em nhỏ hơn 6 tuổi, đi kèm với suy dinh dưỡng. Nó có những hậu quả lâm sàng trầm trọng khi đi kèm với thiếu vitamin E và thiếu kẽm.
Những ai dễ bị thiếu Vitamin A ?
Ở các nước thiếu dinh dưỡng, những phương pháp phòng ngừa đơn giản có thể chống được bệnh khô mắt mỗi năm.
Trong các nước công nghiệp hóa, người ta gặp thiếu vitamin A ở những tầng lớp xã hội không thuận lợi hoặc những nhóm người có chế độ ăn đặc biệt.
Cũng giống như vậy, ở những người già sống trong điều kiện khó khăn, tất cả những rối loạn mà cơ chế hấp thu bị biến đổi có thể làm giảm khả năng dự trữ vitamin A ở gan có khi đến ngưỡng thiếu khả năng dự trữ vitamin A của tổ chức có thể giảm do một số bệnh :
Bệnh tổn thương gan, gan dự trữ 90% vitamin A, các bệnh đó là xơ gan, viêm gan mãn.
Bệnh đường tiêu hóa mãn tính (đi chảy), nhiễm ký sinh trùng làm giảm sự hấp thu của ruột.
Mucovisidose, bệnh di truyền với rối loạn hấp thu mỡ, cùng tất cả các bệnh rối loạn hấp thu mỡ như hẹp đường mật.
Điều trị kéo dài bằng corticoid và một số thuốc khác.
Dùng thường xuyên dầu parafin để tẩy.
Tiêu thụ trái cây và rau không đủ trong các các quần thể dân chúng ở các nước công nghiệp hóa, cũng như nhu cầu carotenoid quá ít.
Trường hợp nào nên dùng Vitamin A ?
Kê đơn được dựa trên mức độ thiếu cung cấp do suy dinh dưỡng hay thói quen thực phẩm không đúng. Tại các nước có suy dinh dưỡng thì nguy cơ quá liều không có. Ngược lại, vitamin A còn được đưa vào với liều cao bằng đường uống, 6 tháng một lần, vì lý do mức độ hấp thu và dự trữ cao vitamin A nguy cơ độc cho gan thấp.
Khi cơ thể hấp thu hoặc dự trữ vitamin A gan bị biến đổi, liều được cung cấp bởi đường ngoài tiêu hóa phải dựa trên nhu cầu hằng ngày.
Vitamin A từ lâu được đề nghị để điều trị các bệnh về da có rối loạn quá trình sừng hóa : Chẳng hạn : vảy nến, mụn trứng cá. Ngày nay, người ta dùng các retinoid tổng hợp, tuy nhiên, nó có thể độc hơn vitamin A, và tốt hơn nếu chỉ sử dụng điều trị bên ngoài, kết hợp với bêta-caroten và các chất chống ôxy hóa khác bằng đường uống.
Vitamin A được kê bằng cách dùng tại chỗ, dưới dạng nhỏ mắt lúc bị tổn thương giác mạc, dưới dạng crem bôi da để điều trị các chỗ tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời, vết thương, bỏng bề mặt, nứt nẻ da.
Vitamin A còn được dùng liều cao trong một vài phương pháp điều trị chống ung thư.
Nguy cơ tăng vitamin có thể giảm bởi dùng kèm vitamin E có nguồn gốc tự nhiên. Nó cũng được dùng để giảm nguy cơ biến chứng và tử vong do sởi ở trẻ em.
Nhưng ở người lành, không có giá trị điều trị nào khi dùng vitamin A. Đặc biệt, không được dùng tự tiện cho trẻ em và phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ.
Chú ý : Vitamin A có hàm lượng thay đổi trong nhiều ngành dược, thực phẩm, chế độ ăn, mỹ phẩm.
Dùng Vitamin A thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không ?

Phần lớn vitamin A được hấp thu hàng ngày và được dự trữ trong gan. Khả năng dự trữ của cơ quan này rất cao, vì người ta có thể lấy ra lượng vitamin A 200mg trong 1g gan : tức là 1 gram gan có vitamin A cao hơn 3 lần nhu cầu hằng ngày của người lớn.
Vượt quá nồng độ này, vitamin A trở nên độc. Những ngưỡng độc không rõ nét. Có những nguy cơ tăng vitamin khi sự hấp thu hàng ngày đạt tới từ 20 đến 50 lần liều được đề nghị, và tai nạn xảy đến sau nhiều tháng, đôi khi nhiều năm. Bệnh của gan dễ làm gan tổn thương với độc tính của vitamin A.
Quá liều cấp gây ra tăng áp lực nội soi dẫn đến chóng mặt, nôn, và buồn nôn, thóp phồng ở trẻ em còn bú, đau đầu vùng chẩm ở người lớn, bong da và niêm mạc.
Quá liều mãn tính được thể hiện âm ỉ lúc đầu với những rối loạn da (bong vảy, khô, ngứa, rụng lông), đau khớp và cốt hóa dây chằng, đóng sớm sụn liên hợp, rối loạn thần kinh (dễ kích thích, mệt ở trẻ em), bị bệnh gan có thể dẫn suy gan.
Bêta-caroten hoàn toàn không độc, để tránh nguy cơ tăng vitamin A.
Quá liều carotenoid chỉ có thể gây ra màu vàng ở da.
Hai nghiên cứu của Pames năm 1994 và 1995, cho thấy một sự tăng nhẹ tần số của ung thư phổi ở người hút thuốc lá cần được cung cấp, thêm bêta-caroten. Ngoài việc bỏ thuốc lá, người đang hút thuốc và người hút thuốc trước đây không được dùng bêta-caroten có thể trở thành chất tiền ôxy hóa trong một số trường hợp.
Người ta có thể thêm vào nguy cơ liên quan đến việc dùng vitamin A, các nguy cơ của retinoid, những chất giống về mặt hóa học, đặc biệt để điều trị các bất thường về quá trình sừng hóa và sản xuất chất bã. Nhưng phải biết rằng, hoạt động của chúng sẽ tạo điều kiện thuận lợi trên các mô bị tổn thương, đi kèm các tác dụng phụ trên mô lành, đặc biệt là khô da và niêm mạc.
Đối với các phụ nữ được điều trị bằng retinoid nếu có thai thì chống chỉ định tuyệt đối. Khi đó ngoài nguy cơ bị sẩy thai tự nhiên còn có nguy hiểm về biến dạng bào thai (Không chỉ cấm dùng retinoid trong lúc có thai, mà muốn có thai phải ngừng thuốc trước một thời gian).

BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des vitamines)

BẢO QUẢN VITAMINE THỨC ĂN HÀNG NGÀY

Rau xanh và trái cây
Khi thu hoạch :
Sản phẩm chín tốt chứa nhiều vitamin nhất. Do đó, nếu có may mắn được tiêu thụ sản phẩm của chính mình trồng thì nên thu hoạch sản phẩm khi nó đã chín. Tuy nhiên, có vài trường hợp cá biệt chẳng hạn cà chua xanh giàu vitamin hơn cà chua đỏ.
Khi mua:
Hàm lượng vitamin của rau và trái cây giảm đi sau khi thu hoạch cho nên chỉ mua những loại được trồng quanh năm, chín, càng tươi càng tốt, và lý tưởng nhất là vẫn chưa được bày bán trên các sạp hàng ở chợ (tức là phải mua tại vườn). Một vài loại thực phẩm mất 1/2 lượng vitamin trong 48 giờ, do đó tốt nhất nên chọn loại rau, trái cây vừa mới được hái và bán ở chợ hơn là loại nằm trong siêu thị từ nhiều ngày.
Tại nhà :
Không khí và ánh sáng là kẻ thù của
vitamin, vì thế những sản phẩm tươi phải được đặt trong túi kín để nơi bóng tối và mát, tránh để lâu. Ngay cả trong ngăn tủ lạnh, vitamin vẫn bị tiếp tục mất đi.
Lúc chuẩn bị nấu :
Vitamin thường tập trung nhiều trên lớp bề mặt của rau, hạt, rễ, và trái. Do đó, gọt vỏ càng mỏng càng tốt, cũng như chỉ bóc vỏ khoai tây sau khi nấu. Ðối với trái cây chỉ rữa sạch chúng thay vì gọt vỏ. Bên cạnh đó, phần lớn các vitamin tan được trong nước, nên tránh nhúng lâu các loại thực phẩm như :xà lách, đậu xanh, và các rau khác; trong nước rửa nhanh chúng dưới vòi nước sạch, đặc biệt chỉ ngắt bỏ cuống các loại trái cây sau khi rửa sạch. Vitamin còn nhạy cảm với oxy, do đó không nên chuẩn bị nước trái cây ra trước khi dùng cũng như để tiếp xúc lâu với không khí.
Khi nấu :
Khi nấu, nhiệt độ là kẻ thù quan trọng của vitamin. Nhiệt độ càng cao, nấu càng lâu, thì khả năng phá huỷ vitamin càng lớn, có thể mất 95% đối với vitamin C Vitamin B1. Ðặc biệt, thực hiện hầm thực phẩm với nước là không tốt, bởi vì nó làm tăng khả năng phá huỷ vitamin bởi nhiệt độ cũng như tạo điều kiện cho vitamin tan trong nước và càng phí phạm nếu đổ nước này đi. Do đó, ta chỉ nên hấp hơi thực phẩm để giữ được nhiều vitamin hơn.
Tuy nhiên, những nghiên cứu mới đây lại cho thấy rằng sự khác nhau sẽ không nhiều, nếu thời gian hấp lâu. Ngoài ra áp suất cũng có
tác dụng huỷ vitamin, tương tự như vậy thì quan niệm rộng rãi trong mọi người cho rằng nấu với áp suất sẽ giữ vitamin tốt hơn nấu với nước không được chứng minh.
Vì vậy cần phải :
Cá :
Ðặc biệt cá có nhiều chất béo bảo vệ( cá hồi, cá trích, cá mòi, cá hồi biển), bạn nên ăn thường xuyên, bởi vì nó tham gia vào hoạt động phòng ngừa bệnh tim mạch, béo phì, ung thư vú và những bệnh tự miễn. Khi nấu phải tránh nấu quá kỹ vì nhiệt độ không những phá huỷ vitamin mà còn làm biến đổi các acid béo bảo vệ. Ðể bảo vệ những chất bổ dưỡng nói chung và các vitamin nói riêng trong cá, nên ướp muối nếu cá được đánh bắt dễ dàng, cũng như nên hấp hơi vì điều này nhanh (thường dưới 5 phút khi cá hết đông đá hoặc được cắt sẵn), hoặc nấu trong thời gian ngắn với ngọn lửa nhỏ đồng thời tắt lửa khi nước reo và giữ cá trong nồi, đậy nắp 10 phút.


Thịt :
Bạn nên chọn thịt ít mỡ vì mỡ chứa nhiều chất béo bão hoà, dễ gây bệnh tim mạch, ung thư đại tràng, viêm và dị ứng.
Thịt cũng cần tránh những cách nấu quá kỹ vì khi đó sẽ làm huỷ vitamin, biến đổi các phân tử, cũng như tạo ra các sản phẩm gây ung thư, về lâu dài góp phần làm xuất hiện ung thư. Chẳng hạn:
Người ta đưa vào mỗi ngày nhiều gram thức ăn bị carbon hoá hoặc có mùi khét, chủ yếu được chế biến từ thịt. Thức ăn này dễ gây độc cho cơ thể. Tuy nhiên, có thể giảm các chất độc này cho cơ thể của chúng ta một cách dễ dàng. Ví dụ ở món thịt nướng: khi bạn ngửi thấy mùi thịt nướng bốc thơm lừng là cảm thấy thèm liền, thật ra cách làm này rất độc bởi vì nhiệt sẽ gây ra biến dạng phân tử và mỡ chảy ra sẽ tạo thành chất gây ung thư mạnh và đi vào lại trong thịt,(chất benzopyrème). Ðiều đơn giản có thể ngăn ngừa hiện tượng này bằng cách sử dụng các que nướng thẳng đứng và nồi nướng để một bên thịt, chứ không phải ở dưới, đồng thời để cách xa thịt ra khỏi nồi nướng, tránh bị carbon hoá.
Ðặc biệt với lò nướng, người ta có thể tránh làm cháy hoặc khét thịt, ngay cả khi nướng da gà.
"Nhưng điều này làm thịt mất ngon", quá trình biến dạng các phân tử sẽ tạo ra một mùi vị dễ chịu. Hơn thế, hầu như mọi người không biết rằng, ăn những phần vàng cháy hoặc đen của thịt dễ mang đến một nguy cơ nguy hiểm tương tự.
Một nghiên cứu ở Thuỵ Ðiển cho thấy, những người ăn nhiều thịt nấu chín bị ung thư đại tràng gấp 3,5 lần so với những người ăn thịt tái .
Ðiều quan trọng là phải giảm tối đa phương pháp xử lý bằng nhiệt. Dù cho loại thức ăn nào, và cách nấu nào cũng cần phải ăn càng sớm càng tốt sau khi nấu, tránh để lâu. Càng để lâu càng bị mất vitamin C.
Bánh mì:
Khi nướng bánh mì tức là bạn đã trực tiếp làm mất Vitamin B1.
Tóm lượt về cách bảo quản vitamin
Trồng trọt cũng như chăn nuôi, nếu thu hoạch trước khi chín hay chưa đến độ thu hoạch sẽ không mang lại lượng vitamin tối ưu. Đặc biệt đối với thịt, cá, rau quả. Một vài kỹ thuật bảo quản đã cải thiện giúp vitamin ít bị mất đi lúc cất giữ.
Cho dù phương pháp bảo quản nào đi nữa thì thời gian bảo quản kéo dài đều làm mất nhiều vitamin và các acid amin, các acid béo cần thiết. Sản phẩm tươi là tốt hơn. Dùng thực phẩm đóng hộp càng sớm so với thời hạn sử dụng càng tốt.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des vitamines)


VITAMINE

Vitamin là gì?
Người ta có thói quen nghĩ rằng vitamin là loại thuốc bổ giúp khoẻ mạnh hoặc chống mệt mỏi. Do đó có phải vitamin đóng vai trò kích thích các cơ quan không? Không hẳn thế. Thực sự thì đặc điểm hàng đầu của vitamin là cần thiết cho cuộc sống, do chúng tham gia vào các phản ứng sinh học.
Vitamin không được sản xuất bởi cơ thể con người, nó phải lệ thuộc vào nguồn bên ngoài đưa vào (trừ một số vitamin như vitamin D, PP). Các vitamin có nguồn gốc từ động vật cũng như thực vật. Cơ thể chúng ta cũng chỉ cần chúng một lượng nhỏ và rất có hiệu lực. Vitamin rất dễ bị phá huỷ, chẳng hạn Vitamin B1, vitamin C dễ bị huỷ lúc nấu nướng.
Từ vitamin xuất phát từ đâu?
Năm 1910, một nhà sinh hoá người Mỹ, Casimir Funk đã sáng tạo ra từ "vitamin" vì nó là một chất thuộc nhóm amin và cần thiết cho sự sống (vital). Vital+amin =vitamin
Về sau có một số chất không thuộc nhóm amin nhưng cũng cần thiết cho sự sống.
Vitamin đầu tiên được phát hiện vào năm 1910, và vitamin cuối cùng được phát hiện cách đây 50 năm. Tuy nhiên người ta cũng chưa hiểu hết về chúng.
Có mấy loại vitamin ?
Hiện có các loại vitamin sau : vitamin A, vitamin nhóm B, vitamin C, vitamin D, vitamin E, vitamin H, vitamin K. Trong nhóm vitamin B chia ra nhiều loại như :B1, B2, B3, B5, B6, B8, B9, B12.
Theo chuyên môn người ta chia vitamin ra làm 2 nhóm: loại tan trong mỡ gồm vitamin A, D, E, K. Loại tan trong nước gồm vitamin nhóm B, vitamin C.
Có 6 bệnh thường gặp do thiếu vitamin gây ra
Bệnh Thiếu vitamine Rối loạn chính

BÉRIBÉRI Vitamine B1 Gây liệt, suy tim

SCORBUT Vitamine C Gây chảy máu
PELLAGRE Vitamine PP Gây rối lọan da và tâm thần
Thiếu máu Vitamine B12 Xanh xao, yếu đầu chi, viêm lưỡi
Bệnh khô mắt Vitamine A: Mù
Bệnh còi xương Vitamine D :Biến dạng xương
Ðặc điểm chung của các vitamin là gì?
Mặc dù có cấu trúc hoá học, vai trò và tác dụng khác nhau, nhưng tất cả các vitamin đều có chung các đặc tính :
Không cung cấp năng lượng: tức calo=0
Hoạt động với số lượng rất nhỏ : tuỳ theo từng loại vitamin mà lượng cần hàng ngày thay đổi từ vài microgam (vitamin B12) đến vài chục miligram (vitamin C).
Ða phần cơ thể không tổng hợp được: phải nhập từ thức ăn bên ngoài đem vào.
Không thể thay thế lẫn nhau: tức là khi thiếu vitamin này không thể đem vitamin khác thế được.
Cần thiết cho hoạt động và phát triển của cơ thể.
Vitamin đóng vai trò là chất xúc tác, nhờ đó thức ăn được đồng hoá và biến đổi của tổ chức (tế bào). Vitamin tạo thuận lợi cho việc sản xuất và sử dụng năng lượng. Ngoài ra vitamin còn bảo vệ tế bào khỏi bị tấn công, nhờ đặc tính chống lại quá trình oxi hoá và tham gia vào việc chống nhiễm trùng, khử độc và sửa chữa các cấu trúc bị hư.Thiếu vitamin sẽ gây ra những rối loạn cho cơ thể
Những đối tượng nào dễ bị thiếu vitamin ?
Những đối tượng sau đây dễ bị thiếu vitamin:
Trẻ sinh non.
Trẻ em.
Người chơi thể thao.
Phụ nữ có thai, nhất là khi bị nghén.
Phụ nữ sau khi sanh.
Phụ nữ cho con bú.
Người ăn kiêng.
Người già.
Người bị bệnh mãn tính, đặc biệt là bệnh lý đường tiêu hoá như : tiêu chảy, đau bao tử.
Người đang thời kỳ dưỡng bệnh.
Nghiện thuốc lá, nghiện rượu.
Người làm việc trong môi trường ô nhiễm, căng thẳng.
Làm sao biết bị thiếu vitamin?
Thiếu vitamin được phát hiện nhờ vào các triệu chứng và dấu hiệu sinh học (đo lượng vitamin trong máu).
Các triệu chứng có thể có của thiếu vitamin :
Dị ứng với ánh nắng mặt trời
Thay đổi ở da: khô da, mất độ sáng của da, mất tính mềm mại.
Những thay đổi của lưỡi.
Những thay đổi của móng tay, chân như móng mất bóng, có sọc, dễ gãy.
Thay đổi khẩu vị như ăn không ngon hoặc tăng sự ngon miệng.
Giảm độ nhạy cảm của cơ thể.
Giảm ham muốn tình dục.
Giảm vui vẻ, dễ bị kích thích, nóng nãy.
Giảm thể lực, giảm khả năng gắng sức.
Giảm khả năng tập trung, giảm trí nhớ.
Dễ bị bầm máu
Ðọc sách, nhìn mau mỏi mắt
Tê cóng, chuột rút
Vô sinh.
Rối loạn kinh nguyệt.
Rối loạn nhịp tim.
Chậm mọc lông, dễ rụng tóc.
Chậm liền sẹo.
Dễ bị stress.
Dễ bị nhiễm trùng.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des vitamines)

Thứ Ba, 13 tháng 11, 2007

HUYẾT ÁP THẤP


Từ trước đến giờ người ta thường quan tâm đến cao huyết áp, và có rất nhiều công trình nghiên cứu về cao huyết áp, nhưng lại thiếu quan tâm một cách đầy đủ về huyết áp thấp. Chính vì vậy mà bệnh nhân huyết áp thấp ít được bác sĩ chú ý điều trị một cách đúng mực. Bài viết này nhằm cung cấp cho bạn kiến thức về huyết áp thấp, từ đó bạn có thể điều trị và phòng ngừa cho mình cũng như người thân của mình( nếu có) một cách hữu hiệu.
NGUYÊN NHÂN NÀO GÂY RA HUYẾT ÁP THẤP ?
-Mất máu : do xuất huyết cấp hoặc mãn. Đó là nguyên nhân thường gặp nhất, giải thích tại sao một người bị thiếu máu thường bị xỉu.- Mất nước : do ói mửa, do nóng hoặc do tập thể dục nặng mà không bù đủ nước. ( chạy marathon).- Dãn tĩnh mạch : đó là nguyên nhân khá thường gặp. Ở người bị dãn tĩnh mạch, thể tích máu giảm vì thành mạch máu bị dãn nở và chất lượng kém. Người bị dãn tĩnh mạch đứng 30 phút có thể « mất » một lượng máu khoảng 1 lít do máu tụ lại ở phần dưới của cơ thể.- Một số loại thuốc, có thể gây ra tụt huyết áp như các thuốc điều trị cao huyết áp gồm lợi tiểu và thuốc dãn mạch.- Do lão hóa. Ở những người già, mạch máu trở nên cứng đi, kém đàn hồi nên thể tích máu sẽ giảm đi sau khi ăn, vì một lượng lớn máu tập trung về dạ dày giúp cho quá trình tiêu hóa. - Yếu tố di truyền. - Tiểu đường lâu ngày, làm tổn thương dây thần kinh kiểm soát trương lực mạch máu, vì vậy làm rối loạn tuần hoàn máu trong cơ thể. -Một số bệnh lý của hệ thần kinh như : bệnh Parkinson, hội chứng Guillain-Barré.
NGƯỜI BỊ HUYẾT ÁP THẤP CẦN PHẢI LÀM GÌ ?
Ăn mặn( nhiều muối hơn bình thường). Muối thường không được khuyến cáo ở người cao huyết áp, nhưng nó lại được khuyến kích ở người có huyết áp thấp. Uống nước khoáng rất có lợi cho người bị huyết áp thấp, nhất là nước khoáng có chứa nhiều muối Natri. Uống nhiều nước : Nước làm gia tăng thể tích máu. Không nên uống rượu. Uống rượu làm dãn mạch, làm giảm huyết áp. Không nên ngồi dậy đột ngột. Nếu như bạn có huyết áp thấp, thì việc đứng dậy đột ngột có thể gây ra hạ huyết áp nặng hơn. Lúc này gọi là « hạ huyết áp do tư thế », và bạn có thể bị xây xẩm và thậm chí ngất xỉu. Trước khi đứng dậy, bạn nên vươn vai vài cái và ngồi cạnh mép giường trong thời gian vài chục giây, sau đó hãy đứng dậy từ từ. Việc vươn vai và co cơ, giúp cho huyết áp bạn được tốt hơn. Để cho cơ thể của bạn có thời gian thích nghi với tư thế đứng sẽ giúp bạn tránh được cảm giác choáng váng. Bạn nên mang vớ (tất) ôm sát chân nếu bạn bị dãn tĩnh mạch. Bạn nên có giấc ngủ trưa sau khi ăn nếu bạn là người trên 60 tuổi. Vì việc tiêu hóa thức ăn, sẽ giữ một lượng lớn máu ở dạ dày, cho nên nếu bạn hoạt động thể lực ngay sau khi ăn thì việc cung cấp máu tới não sẽ không đủ dẫn đến triệu chứng do huyết áp thấp gây ra. Bạn hãy ngọa nguậy các ngón chân, và co cơ bắp chân. Điều này rất có lợi cho sức khỏe bạn nếu như bạn thường đứng lâu. Phòng ngừa. Nếu bạn là người có xu hướng bị huyết áp thấp, thậm chí bạn vẫn còn cảm thấy khỏe mạnh, chúng tôi khuyên bạn nên uống nhiều nước và ăn đủ muối, nhất là khi trời nóng và khi bạn tập thể dục. Thậm chí việc tập thể dục đều đặn cũng được khuyến khích mà không có bằng chứng nào nói rằng tập thể dục làm nặng thêm tình trạng huyết áp thấp, trong khi tập thể dục vẫn được khuyến khích ở người cao huyết áp. Bạn có biết phải làm gì không khi gặp một người huyết áp thấp bị ngất xỉu ?
Theo phản xạ tự nhiên của mọi người thì khi gặp một trường hợp ngất xỉu thì họ nâng đầu nạn nhân lên. Đó là một sai lầm nghiêm trọng: lúc này bạn không nên làm như vậy, ngược lại phải nâng hai chân nạn nhân lên cao, điều này giúp máu lên não được tốt hơn. Nếu nạn nhân không tỉnh lại ngay sau đó, thì đó không phải là do huyết áp thấp, mà có thể do một nguyên nhân khác trầm trọng hơn, và lúc này cách hay nhất là bạn nên gọi xe cấp cứu để đưa nạn nhân đến bệnh viện.( Tại Việt Nam, bạn có thể gọi xe cấp cứu -số điện thoại là 115, số thống nhất trên toàn quốc).
KHI NÀO THÌ BẠN CẦN ĐẾN KHÁM BÁC SĨ ?
Khi bạn cảm thấy choáng váng, đi không vững, hoặc cảm thấy xây xẩm khi chuyển từ tư thế nằm hoặc ngồi sang tư thế đứng.
Khi bạn cảm thấy những triệu chứng trên xảy ra sau khi ăn.
Bạn bị bất tỉnh một thời gian khi đứng hoặc nằm.
ĐIỀU GÌ DIỄN RA VỚI BẠN KHI KHÁM BÁC SĨ ?
Bác sĩ sẽ đo huyết áp của bạn ở tư thế đứng. Rồi sẽ cho bạn làm một số xét nghiệm có chọn lọc giúp cho việc chẩn đoán bệnh. Bác sĩ có thể cho bạn mang một máy để theo dõi huyết áp liên tục 24/24 giờ. Bác sĩ sẽ đánh giá chức năng tim của bạn cũng như thể tích máu và nồng độ một số hormone trong máu. Sau đó bác sĩ sẽ cho bạn nằm trên bàn nghiêng, bàn này có thể đu đưa được, nhằm duy trì bạn ở tư thế đứng. Người có huyết áp thấp sẽ xỉu ngay trong vòng 5 phút đầu.
ĐIỀU TRỊ HUYẾT ÁP THẤP NHƯ THẾ NÀO ?
Khác với cao huyết áp, huyết áp thấp không ảnh hưởng đến tuổi thọ của bạn, nhưng nó làm giảm chất lượng sống của bạn. Trong trường hợp cần thiết, bác sĩ sẽ cho bạn dùng một số loại thuốc giúp tăng thể tích máu bằng cách giữ muối, tăng sự co thắt của mạch máu, làm ức chế dãn mạch. Trường hợp phức tạp thì cần dùng nhiều lọai thuốc. Ngòai ra, dùng sâm cũng có hiệu quả ở người có huyết áp thấp.
Người ta chưa có con số thống kê đầy đủ về huyết áp thấp, nhưng người ta thấy rằng huyết áp thấp chiếm khoảng 5% số người trưởng thành. Huyết áp thấp thường gặp ở phụ nữ gấp nam giới 30 lần. Máu kinh mất cũng là một yếu tố nguy cơ gây ra huyết áp thấp. Bạn nên biết rằng huyết áp thấp ở trẻ em là chuyện bình thường.
Nếu bạn có vấn đề gì về huyết áp, bạn có thể đến phòng mạch của bác sĩ để được khám và tư vấn chi tiết hơn.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO