Thứ Hai, 3 tháng 12, 2007

SILIC

Silic là gì?
Silic là một kim loại mà giá trị công nghiệp của nó trội rõ hơn so với giá trị y học. Tuy nhiên, nó là một trong các yếu tố vi dinh dưỡng bảo vệ.
Nó là một trong những chất cấu tạo nên mô liên kết. Vì vậy, nó được tìm thấy chủ yếu trong xương, sụn, gân mà các tổ chức này vững chắc là nhờ vào silic. Tuy nhiên, người ta còn tìm thấy nó trong các mô và cơ quan, vì chúng được bao bọc bởi mô liên kết, cùng một lúc với mô nâng đỡ. Hàm lượng silic của thành động mạch và da giảm theo tuổi.
Vai trò, nhu cầu và nguồn về silic?
Silic tham gia vào quá trình tổng hợp xương và tạo tính bền vững cho vỏ bọc mô liên kết, bao gồm cả động mạch.
Những công trình gần đây nhất gợi ý rằng, nó cũng là một chất bảo vệ chống độc để loại bỏ nhôm, silic lắng đọng, ngăn cản nhôm đi vào não và xương.
Lượng cung cấp từ thức ăn khoảng 21 đến 56mg/ngày, nhưng không xác định được nhu cầu cũng như mức độ cung cấp tối ưu. Nhu cầu được tăng ở trẻ em phát triển, đặc biệt khi bị gãy xương hoặc sửa chữa mô.
Silic có trong một vài loại nước khoáng, bia, ngũ cốc toàn phần.
Thiếu silic biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Thật khó để nói về mức độ thiếu hụt ở người trong tình trạng hiểu biết hiện nay. Tuy nhiên, silic dinh dưỡng dường như là một yếu tố bảo vệ, không độc.
Trường hợp nào nên dùng silic – Dùng silic thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?
Silic được chỉ định dự phòng và điều trị loãng xương hoặc dãn dây chằng, phình động mạch, đặc biệt bảo vệ cơ thể, tránh tác dụng độc của nhôm. Cần có những nghiên cứu lâm sàng cụ thể để xác định chính xác phương pháp điều trị.
Một vài dạng công nghiệp của silic cũng như đầu amiante và bụi silic là nguồn gốc của các bệnh nặng: ung thư màng phổi, và nhiễm silic ở phổi. Silic nguyên tố và các thành phần hữu cơ của nó không độc, nguy cơ thừa silic được mô tả ở người bệnh suy thận được chạy thận nhân tạo. Tuy nhiên, silic tinh thể có thể gây ra những tác dụng âm tính. Silic dạng keo được dùng phổ biến hơn các dạng hữu cơ khác.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)

SELEN

Selen là gì?
Selen không hoàn toàn là một kim loại giống như các yếu tố khác trước đây. Nó được mô tả gần giống với kim loại tiêu biểu là lưu huỳnh. Cơ thể chứa từ 3 đến 15mg, tùy theo sự phong phú của đất ở từng vùng.
Vai trò của selen?
Selen đầu tiên là chất khử độc. Nó có khả năng liên kết với các kim loại nặng như thủy ngân và đào thải các kim loại nặng ra nước tiểu. Selen cũng bảo vệ cơ thể khỏi tác hại của cadimi, chì, đồng, bạc, platin và arsenic. Ngoài ra, bằng cách hợp tác với glutathion, selen góp phần giảm độc tính của nhiều chất khác.
Nhưng sự tham gia của nó vào hoạt động của một men chống ôxy hóa, glutathion peroxydase, hay GPX, khiến nó trở nên có vai trò sáng chói. Enzyme này trung hòa nước có oxy trước khi tạo thành các gốc tự do có hại, dưới sự hiện diện của sắt hay đồng. Nó cũng là enzyme duy nhất có khả năng tái sử dụng acid béo bị hư hỏng do các gốc tự do. Đặc biệt ở mặt màng tế bào.
Từ các acid béo bị oxy hóa này mà các chất trung gian của viêm, dị ứng và ngưng tập tiểu cầu được tạo thành.
Do đó, selen cũng có vai trò trong hoạt động thay đổi dịch của máu và các đáp ứng miễn dịch. Trong những chức năng chống viêm là làm loãng máu, nó tác động hiệp đồng với glutathion, vitamin E và các acid béo không no.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng cung cấp tối đa selen sẽ làm giảm tần số của bệnh tim mạch và ung thư.
Gần đây, người ta đã phát hiện ra ở Écosse, công cụ sinh hóa cho phép hoạt hóa các hormon tuyến giáp, cũng lệ thuộc vào selen.
Nguồn thức ăn nào cung cấp selen?
Selen được kết hợp với protein. Do đó, người ta tìm thấy nó trong thịt, cá, trứng và ngũ cốc. Tuy nhiên, hàm lượng thức ăn lệ thuộc vào đặc tính phong phú của đất có selen.
Selen chủ yếu có từ chất phun ra khi có núi lửa. Từ vùng này đến vùng khác, đất có thể thay đổi và lượng selen sẽ thay đổi gấp 1000 lần hay ít selen.
Nhu cầu hàng ngày về selen là bao nhiêu?
Theo các chuyên gia, liều tối ưu vào khoảng 200mg/ngày.
Trẻ còn bú: 15mg
Trẻ từ 1 đến 3 tuổi: 20 mg
Trẻ từ 4 đến 9 tuổi: 30 mg
Trẻ từ 10 đến 12 tuổi: 40 mg
Thanh niên từ 13 đến 19 (nam): 60 mg
Thanh niên từ 13 đến 19 (nữ):55 mg
Người lớn nam: 70 mg
Người lớn nữ: 55 mg
Phụ nữ có thai: 60 mg
Phụ nữ cho con bú: 75mg
Người già : 70 mg
Thiếu selen biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Thiếu nặng, biểu hiện bằng bệnh cơ tim. Thiếu nhẹ, không có triệu chứng gì đặc biệt. Tuy nhiên, nó góp phần làm xuất hiện các tổn hại tế bào quan trọng cũng như thúc đẩy quá trình lão hóa và nguy cơ mắc các bệnh thoái hóa. Vấn đề tương tự khi quan sát dưới vitamin E, carotenoid và những chất béo khác. Do đó, giá trị của việc thực hiện định lượng một cách hệ thống những thiếu hụt các yếu tố sinh học bảo vệ được xác định.
Những nhóm nguy cơ thiếu selen?
Một vài đất nước có mức độ cung cấp đưa vào từ thức ăn cao, một số nước khác thì ngược lại.
Một vài nhóm có nguy cơ thiếu selen là: người già, người tiếp xúc với ô nhiễm, người hút thuốc lá, uống rượu nhiều, người bị viêm, bệnh gan, suy thận, loạn dưỡng cơ, mucovisidose.
SELEN VÀ UNG THƯ
Selen bảo vệ chống lại nguy cơ ung thư. Nó được đi kèm với hoạt tính của enzyme loại bỏ peroxyde và ngăn chặn cấu trúc của hồng cầu bởi ôxy hóa. Tính hiệu quả khi chống lại nhiều tác nhân gây ung thư ở chuột, nó bảo vệ chuột khỏi u đại tràng và vú.
Ở Trung Quốc và Phần Lan, tần suất ung thư tăng lên tại các vùng đất nghèo selen.
Trường hợp nào nên dùng selen?
Selen, giống như vitamine E, vitamine C và một vài carotenoid cùng những chất chống oxy hóa khác, xuất hiện giống nhau khi bổ sung tạo cân bằng hàng ngày, hướng tới điều chỉnh các giới hạn kỹ thuật và của thực phẩm, giống như iod.
Những nhóm nguy cơ trên đây phải được bổ sung và theo dõi hơn các nhóm khác, vì nguy cơ tăng hơn.
Đôi khi, selen cũng được sử dụng cao hơn liều dinh dưỡng, trong sự điều chỉnh thiếu hụt được phát hiện bởi định lượng hoặc chưa bị lão hóa, mắc một vài bệnh viêm, dị ứng hay tự miễn, một vài bệnh tim, cơ, gan và thần kinh.
Nhiều công trình chỉ ra rằng, không chỉ selen với liều dinh dưỡng mới có thể góp phần phòng ngừa ung thư, mà ở liều dược lý nó có thể được sử dụng để điều trị một vài bệnh ung thư, bao gồm di căn, đồng thời đề kháng với điều trị hóa chất và phóng xạ.
Trong những trường hợp này, selen với liều cao có thể làm giảm sức đề kháng của các ung thư với các phương pháp hóa trị liệu và xạ trị. Những điều trị này phải được kê và theo dõi bởi bác sĩ, nhà dinh dưỡng trị liệu. Những công trình mới đây cho thấy rằng, selen phải được đưa vào cho bệnh nhân ở khoa hồi sức.
Dùng selen thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?
Độc tính có thể xuất hiện đối với việc kéo dài liều từ 10 đến 20 lần cao hơn liều dinh dưỡng. Nó biểu hiện bằng hơi thở và mồ hôi có mùi tỏi hoặc móng và tóc dễ gãy, hay kích thích da đầu.
SELEN VÀ BỆNH TIM - MẠCH
Ở động vật, cũng như ở người, thiếu cung cấp selen và vitamin E sẽ gây ra bệnh tim thoái hóa.
Ở Trung Quốc, thiếu cung cấp selen đã gây ra bệnh cơ tim cho trẻ em thậm chí đôi khi gây tử vong. Bệnh này nhạy cảm với sự điều trị bằng selen.
Ở Phần Lan và Tân Tây Lan, những thăm dò cho thấy rằng, tử vong vì bệnh tim mạch sẽ cao hơn trong trường hợp thiếu selen.
Selen là một chất tạo thành glutathion peroxydase, một men đóng vai trò trong sự bảo vệ một vài phân tử chống lại nước ôxy già được sinh ra từ các phản ứng peroxyde hóa. Thiếu selen cũng làm tăng ngưng tập tiểu cầu của máu và biến đổi mỡ trong thành động mạch, hai cơ chế chính dẫn đến xơ vữa động mạch.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2007

SẮT (Fe)


Sắt là gì?
Sắt là yếu tố vi lượng cổ xưa nhất được nghiên cứu. Mặc dù hiện diện trong cơ thể với một lượng rất nhỏ, nhưng nó rất cần thiết cho sự sống.
Vai trò của sắt?
Sắt cần thiết cho nhiều chức năng sống:
Chức năng hô hấp: tạo nên hemoglobin để vận chuyển ôxy từ phổi về tất cả các cơ quan.
Nó tham dự vào quá trình tạo thành myoglobin, sắc tố hô hấp của cơ cũng như tạo thành đặc tính dự trữ ôxy của cơ.
Sắt bị ôxy hóa và khử dễ dàng, nó tham gia vào cấu tạo của nhiều enzyme. Đặc biệt trong chuỗi hô hấp sắt đóng vai trò vận chuyển điện tích.
Ba chức năng này sẽ tham gia vào kênh năng lượng của hiện tượng ôxy hóa. Do đó, thiếu sắt sẽ đưa đến giảm năng lượng, nhưng người ta phải trả giá cho quá trình ôxy hóa này: Từ ôxy, sắt mang một điện từ độc thân được gọi là “gốc tự do”, thoát ra và tác động lên tất cả những gì mà nó gặp, gây tổn hại trung tâm năng lượng của tế bào, men cùng các bộ phận thụ cảm và các nhóm thiols của chúng cũng như các acid béo của màng tế bào.
Ngày nay, người ta biết rằng đó là một trong những cơ chế chủ yếu không chỉ ở lão hóa mà còn ở phần lớn các bệnh được gọi là thoái hóa. Do đó, tần số được gia tăng đáng kể với tuổi, ung thư, bệnh tim mạch, đục nhân mắt, thoái hóa não.
Chúng ta luôn có hệ thống bảo vệ chống lại những đặc tính tràn ngập của các gốc tự do, những enzyme và những vitamin chống ôxy hóa. Nhưng sắt cũng như đồng, từ các sản phẩm được sinh ra bởi hệ thống bảo vệ, có thể sinh ra những loại có tác dụng bào mòn và khó trung hòa hơn. Đó là lý do mà ngày nay chúng ta xem sắt là một yếu tố “con dao hai lưỡi”. Nếu thiếu sắt, sẽ rất nguy hiểm.
Thức ăn nào cung cấp sắt?
Nguồn cung cấp sắt tốt nhất là gan, thịt đỏ, bồ câu, thịt trắng, thức ăn biển, cá, trứng, rau, đậu nành cũng mang lại sắt nhưng khó hấp thu hơn.

Nguồn tự nhiên của sắt
Thực phẩm
mg/100g

Bồ câu
Gan
Hàu
Bột đậu nành
Trứng

Nhu cầu hàng ngày về sắt là bao nhiêu?
Nhìn chung, nhu cầu được thỏa mãn bởi thức ăn, đối với một người trung bình cần nhu cầu như sau :
Lượng sắt cung cấp được khuyên
Trẻ còn bú từ 3 đến 12 tháng : 7-9 mg/ngày
Trẻ từ 1 đến 12 tháng :
Thanh niên : 10 mg/ngày
Phụ nữ (từ lúc trưởng thành đến lúc mãn kinh) : 16-18 mg/ngày
Sau khi mãn kinh :10 mg/ngày
Phụ nữ có thai(phần thứ hai của thai kỳ) : 19-21mg/ngày
Phụ nữ cho con bú : 13 mg/ngày
Thiếu sắt biểu hiện triệu chứng thế nào?
+ Hậu quả của thiếu sắt là thiếu máu, nhưng triệu chứng thiếu sắt thường xuất hiện trước vì : Thiếu máu đôi khi được chịu đựng tốt nên nó diễn ra từ từ.
+ Suy nhược, mệt mỏi khi gắng sức hoặc da niêm xanh xao.
+ Khó thở khi gắng sức, hồi hộp, đôi khi tim có tiếng thổi, nhưng chúng không cố định.
+ Sức đề kháng với nhiễm trùng rất kém, có thai sẽ dễ bị sinh non và hư thai.
Người ta có thường bị thiếu sắt không?
Khi xem xét nhu cầu dinh dưỡng của thế giới, người ta xác định rằng : thiếu sắt là trường hợp thường xảy ra. Có 4 trường hợp thiếu hay gặp:
Thiếu từ nguồn đưa vào: Thiếu sắt và thiếu máu liên hệ lẫn nhau thiếu sắt xảy ra tử 5 đến 10% dân chúng trên toàn cầu – 500 triệu người trên thế giới - nhất là trong các nước đang phát triển, vì ở đó, người dân thiếu nhiều yếu tố. Tuy nhiên, trong các nước khác, thức ăn cũng không cung cấp đủ nhu cầu về sắt cho phụ nữ có thai và cho con bú, trẻ em, những người ăn ít thịt, người ăn chay, uống nhiều chè và thậm chí có thể làm nặng thêm thiếu sắt.
Thiếu do mất: Xảy ra ở phụ nữ mất do kinh nguyệt, hoặc sau khi chảy máu. Trong trường hợp chảy máu cấp, hay chảy máu ít nhưng âm ỉ kéo dài, trĩ, bệnh tiêu hóa, thoát vị hoành, tổn thương tử cung, u xơ, mang dụng cụ tránh thai, tiểu ra máu mạn tính, hoặc bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa cũng làm mất một lượng sắt trong cơ thể. Tất cả đều phải tăng nhu cầu cho phù hợp.
Thiếu hấp thu: Do bị cắt dạ dày, bệnh coeliaque, sprue nhiệt đới, hoặc một vài bệnh đường ruột và thức ăn giàu chất ngăn cản sự hấp thu sắt.
Thiếu sử dụng: Xảy ra do rối loạn tổng hợp hemoglobin, do thiếu folat, xơ gan vì rượu và thiếu máu do viêm.
Dùng sắt thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?
Bệnh hemochoromatose có thể do quá liều sắt trong huyết thanh cao trên 200mg/100ml. Nó có thể do di truyền, hấp thu quá nhiều sắt. Những dấu hiệu xuất hiện thường gặp nhất từ 40 đến 60 tuổi, trầm trọng nhất, sớm nhất xảy ra ở đàn ông nhiều hơn phụ nữ, có thể đi kèm với đái tháo đường, sắc tố nâu ở da và gan lớn, đôi khi chuyển thành xơ gan. Bệnh nhiễm sắt huyết thanh có thể thứ phát sau truyền máu lập lại và một vài trường hợp xơ gan. Ngoài ra, khi thừa sắt sẽ góp phần tăng nguy cơ bệnh tim mạch, ung thư, parkinson, và làm nặng lên với các bệnh như : viêm đa khớp dạng thấp.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)

MANGAN

Mangan là gì?
Mangan có một vài tác dụng sinh hóa, tương tác với chuyển hóa của đường và calci. Nếu thiếu nó, điều này hiếm - cần phải điều chỉnh. Ngược lại, không thiếu, dùng quá dư thừa sẽ nguy hiểm.
Cơ thể người lớn chứa 10 đến 20 mg. Số lượng mangan nhiều nhất được tìm thấy ở xương, gan, thận.
Vai trò của mangan ?
Mangan hoạt hóa một vài enzyme và có thể can thiệp vào sự ức chế trong một vài tế bào chuyển động của calci. Nó đóng một vai trò không rõ ràng trong sự cân bằng của đường máu và quá trình tổng hợp cholesterol, cũng như tiến trình hình thành bộ xương.
Ngược lại, vai trò của nó quá trình trong tổng hợp urê và trung hòa các anion superoxyde của gốc tự do, trong trung tâm năng lượng của tế bào cùng những lạp thể được biết rõ.
Kênh enzyme được liên quan, SOD, mangan trong ty lạp thể cũng như đồng trong tế bào có vai trò chống ôxy hóa. Ngược lại, giống như đồng khi quá nhiều hoặc không được kiểm soát sẽ trở thành tiền ôxy hóa gây độc. Não dường như đặc biệt nhạy cảm với những tác dụng âm tính của mangan, nó gây ra một vài dạng bệnh parkinson.
Thức ăn nào cung cấp mangan?
Nhiều trong thức ăn, người ta đặc biệt tìm thấy trong ngũ cốc và các dẫn xuất của nó (lúa mì, bắp, gạo, lúa mạch, đậu nành). Rau khô, hạt có dầu, chè.
Hàm lượng mangan trong thực phẩm
Hạnh đào
Lúa mạch
Lúa mì toàn phần
Nho khô
Nhu cầu hàng ngày về mangan là bao nhiêu?
Được ước tính trung bình 8mg/ngày. Thực phẩm cung cấp 6 đến 8 mg/ngày.
Thiếu mangan biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Giống với đồng, thiếu dường như rất hiếm và không đưa đến các dấu chứng biểu hiện. Ngược lại, những dấu ngộ độc được biết nhiều hơn, đặc biệt bằng đường thở ở thợ mỏ, có thể gây ra một bệnh giống với bệnh parkinson. Trường hợp ngộ độc bằng đường miệng ngoại lệ. tuy nhiên, có lẽ dư thừa nhẹ thường gặp hơn thiếu, và dư thừa có những tác dụng xấu. Não của trẻ sơ sinh có khả năng tập trung mangan cao hơn não người lớn sẽ dễ bị tổn thương. Thừa mangan có thể đưa đến đột biến.
Dùng mangan thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không ?
Trên thực tế, thân mangan vào phức hợp vitamin - muối khoáng là cần phải xem lại. Mangan cũng như đồng, sắt chỉ được dùng khi thiếu và được chứng minh bởi định lượng. Đối với mangan, kỹ thuật thực hiện định lượng mangan rất khó.
Đưa mangan vào với liều thấp giúp điều trị vi lượng trong nhiều chỉ định không được chứng minh bởi các nghiên cứu. Có lẽ cần thận trọng và giới hạn ở những điều trị ngắn ngày.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)



KẼM (Zn)

Kẽm là gì?
Kẽm là một yếu tố vi lượng quan trọng, nó chịu trách nhiệm trong hoạt động của gen chứa thông tin ở các tế bào của chúng ta. Thiếu kẽm xảy ra nhiều hơn so với thiếu sắt cho đến bây giờ kẽm vẫn là một yếu tố vi lượng mà vị trí của nó bị đánh giá thấp hơn sự thật.
Kẽm có trong tất cả loài vật sống. Cơ thể người lớn chứa trung bình từ 2 đến 3g. Tầm quan trọng của nó cũng như sắt, hơn một nửa kẽm nằm trong cơ, một phần ba trong xương. Đặc biệt một vài mô có hàm lượng kẽm tăng cao : tuyến tiền liệt, tóc, mắt.
Vai trò của kẽm ?
Hơn 200 phản ứng sinh hóa được xác định có lệ thuộc vào kẽm. Do đó kẽm can thiệp vào nhiều chuyển hóa, chuyển hóa glucid, protein và acid nucleic. Một trong những vai trò rõ nhất của nó là chứa chương trình gen trong acid nucleic. Thực vậy, kẽm rất cần thiết cho quá trình tổng hợp của gen, cho sự sao chép ADN có sẵn để tế bào nhân lên. Thiếu kẽm sẽ ảnh hưởng lên tất cả những gì có liên quan đến hoạt động nhân đôi của tế bào, sinh sản, tăng trưởng, liền sẹo, tính miễn dịch.
Kẽm còn can thiệp vào khả năng thể hiện của gen và quá trình tổng hợp của protein, cũng như trong chuyển hóa của acid béo không no tạo ra màng tế bào. Xuất phát từ đây, các chất trung gian chủ yếu đi đến trương lực mạch máu, hoạt tính của tiểu cầu máu và bạch cầu.
Kẽm cần thiết cho cấu tạo thành phần hoạt động của hormon sinh dục nam, testosteron, và đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp, cấu trúc, bài tiết nhiều hormon khác: Insulin, hormon tăng trưởng, NGF (yếu tố tăng trưởng của dây thần kinh), thymulin, gestin…
Nó cũng tác động đến những bộ phận thụ cảm có khả năng giải mã thông tin được lưu hành bởi một vài hormon hay vitamin, giống như vitamin A. Những công trình gần đây còn cho thấy vai trò quan trọng của kẽm trong cấu trúc và hoạt động của tác nhân cơ bản trong việc ngăn ngừa ung thư, protein 53, cũng như ngăn chặn sự sinh sản của các tế bào bất thường, các tế bào mà ADN của chúng bị hư hỏng bởi những gốc tự do và chất ô nhiễm.
Đặc biệt, ngoài đặc tính can thiệp vào cấu trúc và hoạt hóa coenzym của nhiều phân tử, kẽm cũng như magesi, calci, natri và kali còn tham gia vào hoạt động và sức khỏe của cơ thể. Nó được thu hút bởi nhóm thiols hay gốc lưu huỳnh của các acid amin, và bảo vệ, chúng chống lại sự tấn công của các gốc tự do. Kẽm là một chất bảo vệ chống ôxy hóa. Nó chống lại các tác dụng của một vài chất độc, kim loại nặng như cadimi và các chất ô nhiễm khác.
Thức ăn nào cung cấp kẽm?
Kẽm được tìm thấy trong thịt, cá, thức ăn biển nguồn giàu nhất là con hàu. Ngũ cốc, rau khô và hạt có dầu cũng chứa kẽm, nhưng như sắt, nó khó được hấp thu từ thực vật. Sợi có trong bắp hạt, mầm đậu nành chống lại khả năng hấp thu của kẽm.
Nguồn tự nhiên của kẽm
Thực phẩm
mg/ngày
Hàu
Gan

Thịt đỏ
Trứng
Sắt cũng là một chất ức chế mạnh khả năng hấp thu của kẽm. Không nên trộn lẫn kẽm và sắt để bổ sung.
Aspirin ức chế khả năng hấp thu sắt ở mức độ ít hơn so với kẽm. Rượu đỏ dường như cải thiện khả năng hấp thu.
Nhu cầu hàng ngày về kẽm là bao nhiêu?
Lượng kẽm cung cấp được khuyên (mg/ngày)
Trẻ còn bú: 6
Trẻ từ 1 đến 9 tuổi: 10
Trẻ từ 10 đến 12 tuổi: 12
Thanh niên từ 13 đến 19 (nam):15
Thanh niên từ 13 đến 19 (nữ): 12
Người lớn nam:15
Người lớn nữ :12
Phụ nữ có thai:15
Phụ nữ cho con bú: 19
Người già:12
Thiếu kẽm biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Rất dễ nhận thấy: Móng dễ gãy, hoặc chậm mọc và có những vết trắng. Da khô (biến đổi chuyển hóa acid béo) là một dấu hiệu gián tiếp. Những dấu hiệu bên ngoài thường được biểu hiện là gia tăng tính tổn thương với nhiễm trùng, ở trẻ em thì chậm phát triển, đàn ông giảm khả năng sinh sản, ở phụ nữ có thai gia tăng biến chứng của thai nghén.
Phụ nữ có thai, thiếu kẽm có nguy cơ sinh non tăng gấp 3 lần. Sắt được cung cấp một cách hệ thống trong lúc có thai sẽ ngăn cản sự hấp thu kẽm và có thể làm mức độ thiếu kẽm nặng thêm. Ngoài ra, bổ sung kẽm còn làm giảm nguy cơ biến chứng lúc đẻ.
Một khía cạnh quan trọng hơn nữa của kẽm là sự phát triển của trẻ em. Thiếu kẽm ở bà mẹ trong lúc có thai sẽ đi kèm với nguy cơ thiếu cân lúc sinh, tăng nguy cơ biến dạng của hệ thần kinh hoặc kém phát triển tinh thần vận động của trẻ.
Trong những điều kiện này ngày nay người ta vẫn không hiểu rõ rằng tiếp tục bổ sung không hoàn toàn sắt sẽ tạo ra tác dụng âm tính, trong khi đó kẽm và một số yếu tố khác như magesi, calci, vitamin B9B6 có một tầm quan trọng ở thời kỳ mang thai, cho bà mẹ lẫn em bé.
Đối với người già, thiếu kẽm góp phần gây mất cân bằng đồng hóa với các tác nhân của lão hóa như gốc tự do và chất độc. Về lâu dài thiếu kẽm góp phần làm giảm độ dày của da, cũng như tan khối cơ và loãng xương.
Những dấu hiệu thiếu kẽm khác là: giảm sự ngon miệng, giảm vị giác, chậm liền sẹo, chậm mọc tóc và móng, hay dễ rụng tóc.
Những ai dễ bị thiếu kẽm?
Trong quần thể người lành, 80% trẻ em và người lớn không nhận đủ từ thực phẩm hàng ngày nhu cầu của cơ thể. Tại Pháp, gần toàn bộ phụ nữ trong tuổi sinh đẻ bị thiếu kẽm, hơn 70% trong số họ không nhận được 2/3 nhu cầu đề nghị.
Kẽm không chỉ giữ vai trò quan trọng trong hoạt động phần lớn các cơ quan và mô, mà nó còn có tầm quan trọng ở phụ nữ khi có thai, đặc biệt ảnh hưởng đến bà mẹ và trẻ em. Người ăn chay có nhu cầu cung cấp kẽm thấp hơn những người khác, người già hấp thu kẽm kém.
Trẻ em đang phát triển, phụ nữ có thai hay cho con bú, người bị phẫu thuật, bị chấn thương, bị đái tháo đường, uống rượu nhiều, người dùng sắt hay aspirin. Có nhu cầu tăng cao, đơn giản ở đàn ông sẽ mất 1mg kẽm cho một lần phóng tinh.
Người hút thuốc, tiếp xúc với cadimi, cũng có nhu cầu tăng lên. Người ta phát hiện rằng thiếu kẽm thường xảy ra ở người chán ăn, bao gồm tinh thần, những bệnh nhân bị bệnh crohn, và phần lớn các bệnh đường ruột khác, sẽ đưa đến các rối loạn hấp thu, vảy nến, loét, bỏng.
Trường hợp nào nên dùng kẽm?
Kẽm được kê trong những tình huống thiếu, có những dấu hiệu xuất hiện như chậm mọc hay rụng lông tóc, móng chậm phát triển ở trẻ em, giảm khả năng sinh sản ở đàn ông. Người ta có thể phát hiện ra thiếu trước khi xuất hiện các rối loạn này, bằng cách định lượng trong máu.
Kẽm được cho với liều cao hơn liều điều chỉnh trong trường hợp bị mụn trứng cá, chán ăn tâm lý, loét tiêu hóa, herpes…
Từ thời Ai Cập cổ kẽm được đưa vào bằng đường bên ngoài để kích thích sự tạo sẹo.
Cuối cùng kẽm được dùng với liều thấp trong phương pháp điều trị vi lượng hay phép vi lượng đồng căn, thường được dùng kèm với các yếu tố khác.
Dùng kẽm thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?
Người ta khuyên rằng không dùng kẽm khi bị nhiễm trùng, vì vi khuẩn có thể lợi dụng kẽm (cũng như sắt) làm tác nhân tăng trưởng khi hệ thống miễn dịch của cơ thể sử dụng đến nó. Ngược lại, kẽm có xu hướng tạo hoạt động chống virus bằng cách hiệp đồng với acid béo không no và các chất chống ôxy hóa.
Liều quá cao, trên 150mg/ngày có thể gây ức chế miễn dịch, thay vì kích thích miễn dịch. Liều cao kẽm kéo dài sẽ tạo điều kiện thiếu đồng.
Phần lớn muối kẽm khó hấp thu và khó được dung nạp. Nó còn gây buồn nôn. Một vài muối, giống như citrat kẽm không có những tác dụng phụ này.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)

IOD



Iod là gì?
Iod là một trong những vi dinh dưỡng mà tầm quan trọng của nó đã được xác định từ lâu. Cơ thể chứa từ 15 đến 20mg iod.
Vai trò của Iod?
Vai trò được biết rõ là tham dự vào sự tạo thành hormone tuyến giáp. Những hormone này cần thiết cho sự phát triển của não, thiếu iod ở phụ nữ có thai sẽ đưa đến nguy cơ chậm phát triển tinh thần ở trẻ em.
Thêm iod vào muối và cải thiện hoạt động vận chuyển các thức ăn biển đến vùng núi và vùng đất ít iod là rất quan trọng.
Bướu giáp rất thường gặp. Thực vậy, thiếu iod gây ra tăng kích thích bù trừ của tuyến giáp. Do đó, thiếu iod sẽ đưa tới giảm hoạt tuyến giáp, được đặc trưng bởi rụng lông, táo bón, vàng da, sợ lạnh, tăng cholesterol. Hormon tuyến giáp điều khiển chuyển hóa cơ bản, tức là một phần lớn tiêu hao năng lượng lúc nghỉ, để duy trì nhiệt độ cho cơ thể.
Nguồn thức ăn nào cung cấp iod?
Cá và thức ăn biển là những thức ăn giàu iod. Trứng, thịt có chứa iod, với lượng ít hơn. Đối với các thức ăn khác thì rất ít iod. Muối ăn có thêm iod đã trở thành một nguồn bổ sung cần thiết nhưng không đủ.
Nhu cầu hàng ngày về iod là bao nhiêu?
Trẻ còn bú từ 0 đến 6 tháng : 40 mg/ngày
Trẻ còn bú từ 6 đến 12 tháng: 50 mg/ngày
Trẻ em từ 1 đến 3 tuổi: 70 mg/ngày
Trẻ em từ 4 đến 9 tuổi: 120 mg/ngày
Trẻ em từ 10 đến 12 tuổi: 140 mg/ngày
Thanh niên 13 đến 19 tuổi: 150 mg/ngày
Người lớn: 150 mg/ngày
Phụ nữ có thai: 175 mg/ngày
Phụ nữ cho con bú: 200 mg/ngày
Người già: 150 mg/ngày
Thiếu iod biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Thiếu iod làm giảm khả năng sinh sản, tăng tần suất bị sẩy thai và tử vong lúc sinh, đồng thời làm chậm phát triển tinh thần, có thể trầm trọng. Đặc biệt trẻ nhỏ, rất nhạy cảm với sự cung cấp iod cho đến giai đoạn phát triển của não (năm thứ 3).
Thiếu iod gây ra giảm hoạt giáp mà tính trầm trọng của nó là thay đổi và có thể biểu hiện bởi những dấu hiệu đã mô tả.
Ở trẻ em, không có dấu hiệu của giảm hoạt giáp, được chứng minh bởi sự cung cấp bổ sung iod kết quả là cải thiện được hoạt động trí tuệ.
Thiếu thường xuyên iod, tương tự với kẽm sẽ có những ảnh hưởng khó chấp nhận được.
Những ai dễ bị thiếu iod?
Những nghiên cứu gần đây đưa ra đánh giá trên 820 triệu người, trong đó 20 triệu người châu Âu, bị những rối loạn do thiếu iod, một số lượng lớn hơn (140 triệu ở châu Âu) không nhận được sự cung cấp tối ưu, đặc biệt trong lúc có thai, cho con bú và trẻ nhỏ, ở những người này nhu cầu được gia tăng.
Mặc dù, chương trình phòng ngừa được thực hiện nhưng thiếu iod vẫn thường gặp một cách đáng ngạc nhiên, ngay cả ở châu Âu. Iod rất quan trọng cho sự phát triển của não ở trẻ em, trong tử cung rồi sau khi sinh.
Ngoài ra, mức độ tiêu thụ tăng cao bất thường một vài thức ăn có chứa chất chống tuyến giáp có thể làm tăng sự xuất hiện bướu cổ.
Dùng iod thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?

Bổ sung iod trong muối ăn hàng ngày, đặc biệt cho phụ nữ có thai và trẻ em, hoặc bằng cách dùng thêm các sản phẩm có iod.
Nguy cơ quá liều
Đó là một trong những nguy cơ thường gặp nhất. Ở một vài vùng châu Á, nhất là Nhật Bản và Trung Quốc, ăn quá nhiều rong biển. Ở châu Âu, nguyên nhân thường gặp nhất là dư iod do dùng thuốc, nhất là thuốc chống loạn nhịp hoặc dùng chất cản quang có iod trong chụp X-quang và sát khuẩn. Dùng lâu thuốc chữa iod có thể ngăn chặn hoạt động của tuyến giáp.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)